Nhà dân gian Việt ở mỗi miền được làm từ thứ có sẵn quanh làng: đá ong ở xứ Đoài, tre, rạ và đất ở đồng bằng Bắc Bộ, gạch ngói nung ở nhiều vùng miền Trung, lá dừa nước và gỗ ở Nam Bộ. Mỗi vật liệu vừa là kết quả của đất đai, vừa là lời đáp cho khí hậu của vùng ấy. Phong thủy dân gian có những cách nhìn riêng về các chất liệu này, và phần nhiều khớp với đặc tính thật của chúng.
Bài này đi qua từng vật liệu: lấy từ đâu, làm nhà ra sao, hợp với khí hậu thế nào, quan niệm dân gian nói gì, và có thể dùng lại trong nhà mới không. Bài không bàn ngũ hành của vật liệu hiện đại như kính, inox, đá granite; trọng tâm là vật liệu truyền thống của từng miền.
Vật liệu tại chỗ: vì sao nhà mỗi miền mang một chất liệu
Khi chưa có xi măng, sắt thép và đường sá thuận tiện, người làm nhà dùng gần như hoàn toàn vật liệu trong vòng vài cây số quanh làng. Vùng đồi có đá ong thì xây đá ong, vùng đồng bằng nhiều tre và rơm rạ thì làm nhà tre lợp rạ, vùng ven sông nước lợ có dừa nước thì lợp lá dừa. Gỗ tốt được dùng cho khung nhà ở những nơi gần rừng hoặc nhà có điều kiện.
Vì vậy chất liệu của ngôi nhà nói được rất nhiều về vùng đất. Nhìn tường đá ong là biết vùng bán sơn địa phía tây Hà Nội; nhìn mái lá dừa là biết vùng sông rạch nước lợ phía Nam. Cách làm nhà còn kéo theo cả kỹ thuật, nghề thợ, tập quán bảo dưỡng định kỳ như thay mái, trát vách sau mùa mưa.
Phong thủy dân gian, khi nói về vật liệu, thường dùng ngôn ngữ ngũ hành: đất là Thổ, tre gỗ là Mộc, ngói gạch nung qua lửa mang chút Hỏa. Đó là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người. Phần đáng chú ý hơn là kinh nghiệm thực tế gói trong những lời dặn như "nhà tranh phải xa bếp", "vách đất phải có chân tường cao", "mái lá phải dốc".
Đá ong xứ Đoài: viên đá mềm khi đào, cứng khi gặp gió
Đá ong là gì. Đá ong là loại đá hình thành từ lớp đất giàu sắt và nhôm bị phong hoá lâu năm, phổ biến ở vùng đồi thấp phía tây Hà Nội, quanh Sơn Tây. Khi còn nằm trong đất ẩm, đá khá mềm, có thể xắn thành khối; khi đưa lên và gặp không khí, nó khô và cứng dần.
Làng cổ Đường Lâm là ví dụ quen thuộc. Nhiều nhà, cổng, tường rào, giếng ở Đường Lâm được xây bằng đá ong, tạo nên màu nâu đỏ đặc trưng của làng. Đây là một trong những nơi giữ được nhiều kiến trúc đá ong nhất.
Đặc tính hợp khí hậu. Đá ong có nhiều lỗ rỗng, xây tường dày nên giữ mát vào mùa hè và đỡ lạnh vào mùa đông. Bề mặt xốp cũng giúp tường ít đọng nước hơn tường trát nhẵn những ngày nồm.
Nhược điểm. Bề mặt sần, dễ bám rêu, bụi; khối đá nặng nên vận chuyển xa tốn kém; nguồn đá ngày càng ít và việc khai thác cần theo quy định địa phương.
Quan niệm dân gian. Người ta hay nói nhà đá ong "vững chân", "giữ khí". Theo ngũ hành, đá ong thường được xếp vào Thổ. Đó là quan niệm; phần vững chãi thì đến từ tường dày và móng chắc.
Tre, rạ và đất: nhà tranh vách đất của đồng bằng
Ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, nhà của đa số người dân xưa là nhà tranh vách đất. Khung nhà bằng tre hoặc gỗ, mái lợp rạ, lá mía hay cỏ tranh, vách làm bằng phên tre trát đất trộn rơm. Những vật liệu này có sẵn sau mỗi vụ lúa và quanh luỹ tre làng.
Mái rạ dày có khả năng cách nhiệt khá tốt, nên nhà tranh mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông hơn nhiều nhà mái tôn mỏng sau này. Vách đất trộn rơm thoáng hơi, hút bớt ẩm. Nhược điểm lớn là dễ cháy, mái phải thay sau vài năm, vách sợ mưa hắt và mối mọt.
Kinh nghiệm dân gian quanh nhà tranh phần lớn là kinh nghiệm phòng cháy và chống ẩm: bếp làm riêng hoặc cách xa gian ở, đống rơm để xa nhà, chân vách xây gạch hoặc đá cho cao khỏi nước bắn, mái đua ra xa để che vách. Phong thủy gọi bếp tách khỏi nhà chính là "hỏa không phạm vào gian thờ"; thực tế, đó là giữ cho đám cháy bếp không lan sang cả nhà.
Ngày nay nhà tranh vách đất gần như chỉ còn ở các khu bảo tồn, làng văn hoá hay công trình du lịch. Nhưng những nguyên lý của nó như mái dày cách nhiệt, tường thoáng hơi, bếp tách riêng vẫn có giá trị khi thiết kế nhà ở nông thôn.
Gạch, ngói nung và gỗ: nhà miền Trung và những nếp nhà khá giả
Ở nhiều vùng miền Trung và ở những gia đình khá giả của cả ba miền, gạch nung, ngói nung và khung gỗ là vật liệu chính. Một số điểm đáng chú ý:
- Ngói âm dương: hai lớp ngói lòng máng úp ngửa xen nhau, thấy ở nhiều nhà cổ Hội An và nhà xưa các vùng. Kết cấu nhiều lớp tạo khoảng không khí giúp cách nhiệt, nặng nên ít bị gió bóc hơn ngói đơn.
- Ngói liệt, ngói vảy cá ở nhà rường và công trình xưa vùng Huế: những viên ngói mỏng, nhỏ xếp chồng nhiều lớp, phủ kín mái dốc.
- Gạch nung thủ công: độ xốp cao, hút ẩm và nhả ẩm, lát nền giúp sàn ít trơn những ngày ẩm.
- Khung gỗ chịu lực: nhà rường, nhà ba gian dùng bộ khung gỗ liên kết mộng, tường chỉ để bao che. Khi có lũ, khung gỗ tốt chịu ngâm nước khá, nhưng cần được sấy khô và chống mối sau đó.
- Vữa vôi trộn cát, có nơi thêm mật mía theo kinh nghiệm thợ xưa; vữa vôi thoáng hơi hơn vữa xi măng.
Theo ngũ hành, gạch ngói đã qua lửa nên nhiều người xếp vào Thổ có Hỏa sinh; gỗ là Mộc. Quan niệm ấy là một cách gọi tên. Điều ai cũng thấy được là nhà gạch ngói nung thời trước mát, bền và chịu được thời tiết miền Trung khá tốt.
Lá dừa nước, gỗ và cột cao: nhà vùng sông nước Nam Bộ
Dừa nước mọc thành rừng ven các sông rạch nước lợ ở Nam Bộ. Lá dừa nước được chằm thành tấm, lợp mái và làm vách cho những ngôi nhà lá quen thuộc của vùng sông nước. Lá nhẹ, mát, dễ thay, giá rẻ vì có sẵn quanh nhà. Mái lá dốc giúp nước mưa thoát nhanh trong những cơn mưa rào.
Nhà lá Nam Bộ thường có cột gỗ hoặc cột tre, nền đất nện hoặc sàn gỗ nâng cao khỏi mặt nước. Vách thưa để gió lùa, cửa nhiều để mát. Đó là lời đáp cho khí hậu nóng ẩm quanh năm, không cần giữ ấm, chỉ cần che nắng và che mưa.
Nhược điểm của nhà lá là dễ cháy, mái phải thay sau vài năm, cột chân dễ mục ở nơi ẩm ướt. Nhiều gia đình khá giả hơn xây nhà gỗ ba gian hai chái hay nhà chữ Đinh với gỗ tốt, mái ngói, nhưng vẫn giữ hiên sâu và cửa nhiều. Ngày nay mái lá dừa xuất hiện lại ở các khu du lịch sinh thái, quán ăn ven sông.
Quan niệm dân gian về nhà lá ít nói tới tốt xấu, chủ yếu xoay quanh chuyện giữ lửa và giữ chân cột. Chằm lá, lợp lá là một nghề thủ công của vùng; muốn hiểu kỹ thuật, nên hỏi những người thợ còn làm nghề ở các tỉnh sông nước.
Bảng so vật liệu dân gian ba miền
Bảng dưới đặt các vật liệu cạnh nhau để thấy mỗi thứ hợp với khí hậu nào, yếu ở đâu và quan niệm dân gian hay nói gì:
| Vật liệu | Vùng thường gặp | Điểm mạnh theo khí hậu | Điểm yếu | Quan niệm hay nói |
|---|---|---|---|---|
| Đá ong | Vùng đồi phía tây Hà Nội | Tường dày, mát hè, đỡ lạnh đông | Nặng, sần, bám rêu | Vững chân, giữ khí |
| Tre, rạ, vách đất | Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ | Mái dày cách nhiệt, vách thoáng hơi | Dễ cháy, phải thay mái, sợ mối | Bếp phải tách, hỏa không phạm gian thờ |
| Ngói nung, gạch thủ công | Nhiều vùng, rõ ở miền Trung | Bền, cách nhiệt, ít trơn | Nặng, cần khung chắc | Thổ có Hỏa sinh, nhà vững |
| Khung gỗ | Cả ba miền, nhà khá giả | Chịu lực tốt, sửa từng phần được | Mối mọt, cần gỗ tốt | Mộc, gắn với sự sinh trưởng |
| Lá dừa nước | Sông rạch nước lợ Nam Bộ | Nhẹ, mát, thoát nước nhanh | Dễ cháy, mau hư | Ít bàn tốt xấu, chủ yếu dặn giữ lửa |
Cột cuối là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người. Các cột giữa là đặc tính có thể quan sát và kiểm chứng qua kinh nghiệm người ở.
Dùng lại vật liệu dân gian trong nhà mới: các bước cho an toàn
Nhiều người muốn đưa đá ong, mái lá, gạch thủ công vào nhà mới để có không khí xưa. Có thể làm theo thứ tự:
- Xác định vai trò: vật liệu dùng để chịu lực hay chỉ để ốp, trang trí. Phần chịu lực phải theo thiết kế kết cấu.
- Kiểm nguồn gốc: đá ong, gỗ phải có nguồn hợp pháp; gạch, ngói cũ tháo từ nhà xưa cần xem còn tốt không.
- Xử lý trước khi dùng: gỗ chống mối mọt, lá dừa xử lý chống cháy nếu có thể, gạch cũ làm sạch rêu.
- Tính phòng cháy: mái lá, mái rạ cần khoảng cách với bếp, đèn, dây điện; có bình chữa cháy và lối thoát.
- Chọn đúng chỗ: mái lá cho chòi, hiên, quán; đá ong cho tường rào, cổng, mảng tường; gạch thủ công cho sân, lối đi.
- Kiểm quy định xây dựng và phòng cháy với công trình kinh doanh như quán ăn, homestay dùng mái lá.
Phong thủy không thay được quy chuẩn xây dựng và phòng cháy. Một mảng tường đá ong đẹp hay mái lá mát mẻ chỉ thật sự là "nhà tốt" khi nó an toàn cho người ở. Nếu muốn tìm vật phẩm trang trí làm từ chất liệu tự nhiên, hãy chọn nơi ghi rõ chất liệu như Vật Phẩm Phong Thủy.
Câu hỏi thường gặp
Đá ong có phải là đá thật không?
Đá ong là sản phẩm phong hoá của lớp đất giàu sắt, nhôm, hình thành qua thời gian dài trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Khi còn trong đất nó khá mềm, lên mặt đất thì khô cứng dần. Người ta gọi là đá theo cách dân gian; về địa chất, đây là một loại vỏ phong hoá cứng hoá.
Nhà tranh vách đất có thật sự mát hơn nhà xây không?
Mái rạ, mái tranh dày cách nhiệt tốt hơn nhiều so với mái tôn mỏng, nên nhà tranh thường mát hơn nhà mái tôn không chống nóng. So với nhà xây có mái chống nóng tốt, sự khác biệt ít hơn. Nhược điểm lớn của nhà tranh là dễ cháy và phải bảo dưỡng thường xuyên.
Dùng mái lá dừa cho nhà ở có an toàn không?
Mái lá dừa nhẹ và mát nhưng dễ cháy. Nếu dùng, nên giữ khoảng cách với bếp, đèn, dây điện, có biện pháp chống cháy và bình chữa cháy. Với nhà ở chính hoặc công trình kinh doanh, cần kiểm quy định phòng cháy của địa phương trước khi làm.
Ngói âm dương khác ngói thường ở điểm nào?
Ngói âm dương gồm hai lớp ngói lòng máng, một lớp ngửa một lớp úp xen kẽ, tạo nên mái nhiều lớp có khoảng không khí bên trong. Mái như vậy nặng hơn, cách nhiệt tốt hơn và khó bị gió bóc hơn mái ngói một lớp. Tên âm dương gợi ý hai lớp ngửa và úp bổ sung cho nhau.
Có nên xây cả ngôi nhà bằng đá ong ngày nay?
Có thể dùng đá ong cho tường rào, cổng, mảng tường trang trí để giữ nét xưa. Xây cả nhà bằng đá ong cần nguồn đá hợp pháp, thợ có kinh nghiệm và thiết kế kết cấu phù hợp. Nhiều người chọn kết hợp khung bê tông với tường ốp đá ong để vừa bền vừa giữ được dáng làng.
Vật liệu nào hợp mệnh gia chủ theo phong thủy?
Một số người chọn vật liệu theo ngũ hành của mệnh, đó là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người. Bài này đề nghị ưu tiên vật liệu hợp khí hậu, bền và an toàn trước. Nếu muốn thêm yếu tố ngũ hành, có thể đưa vào qua chi tiết nhỏ, màu sắc trang trí, không cần đổi vật liệu chịu lực.