Các tầng trên la kinh là những vòng chữ đồng tâm khắc quanh thiên trì; tầng gần tâm thường là bát quái và các ký hiệu cơ bản, tầng giữa là 24 sơn — vòng quan trọng nhất, dùng để đọc toạ hướng — và các tầng ngoài chia nhỏ dần thành 60, 72, 120 phần hoặc 64 quẻ, phục vụ những phép tính riêng của từng trường phái. Số tầng thay đổi từ dưới mười tới hơn ba mươi tuỳ loại; không có một bảng "chuẩn" chung cho mọi chiếc la kinh.
Bài này không dạy cách luận từng tầng, việc đó thuộc về từng trường phái. Mục tiêu là giúp bạn nhìn vào một chiếc la kinh và biết mình đang thấy loại vòng gì, tầng nào ai cũng dùng, tầng nào chỉ một phái dùng, để không bị choáng trước chục vòng chữ li ti.
Vì sao mỗi chiếc la kinh có số tầng khác nhau
La kinh không do một người thiết kế một lần. Qua nhiều thế kỷ, mỗi dòng thầy địa lý thêm vào những vòng phục vụ cách tính của mình, rồi các xưởng chế tác gom nhiều vòng lên cùng một mặt đĩa. Loại thiên về phái Tam hợp có ba vòng 24 sơn lệch nhau; loại Tam nguyên (dùng cho Huyền không) có vòng 64 quẻ; loại "tổng hợp" cố gắng gom cả hai nên rất nhiều tầng.
Ngay cả cùng tên một tầng, thứ tự và cách khắc giữa các xưởng cũng có thể khác: có nơi đặt vòng tiên thiên bát quái sát thiên trì, có nơi đặt vòng hậu thiên; có nơi khắc thêm vòng 360 độ ở mép ngoài, có nơi không. Vì thế khi học, bạn nên lấy chính chiếc la kinh mình có, đối chiếu với tài liệu đi kèm hoặc giáo trình của người dạy, đếm từ trong ra ngoài và ghi chú lại tên từng tầng.
Một lưu ý thực tế: số tầng nhiều không có nghĩa là la kinh "cao cấp" hơn trong việc đo. Mọi tầng đều dựa vào cùng một kim và cùng sợi chỉ. Tầng càng mịn thì sai số đo càng lộ rõ: lệch hai độ có thể chưa đổi sơn, nhưng đã đổi ô trên vòng phân kim 120 phần.
Các nhóm tầng thường gặp, xếp từ trong ra ngoài
Bảng dưới gom các tầng phổ biến thành nhóm, theo thứ tự hay gặp từ thiên trì ra mép. Thứ tự thực tế trên la kinh của bạn có thể khác.
| Nhóm tầng | Chia đường tròn thành | Dùng trong việc gì (theo các sách) | Ai hay dùng |
|---|---|---|---|
| Tiên thiên và hậu thiên bát quái | 8 phần, mỗi phần 45 độ | Đối chiếu quẻ với phương vị; nền của Bát trạch và nhiều phép khác | Gần như mọi phái |
| Số Lạc thư, cửu tinh | 8 hoặc 9 ô | Ghi số 1–9 theo cửu cung, tên các sao | Huyền không, Bát trạch |
| Hoàng tuyền, bát sát | Đánh dấu một số sơn | Các phép kiêng theo hướng nước, hướng cửa | Tam hợp và các sách dân gian |
| 24 sơn địa bàn chính châm | 24 phần, mỗi phần 15 độ | Đọc toạ hướng công trình, hướng long mạch | Mọi phái |
| 24 sơn nhân bàn trung châm | 24 phần, lệch nửa sơn | Theo sách Tam hợp: xét "sa" (gò đồi, công trình quanh) | Tam hợp |
| 24 sơn thiên bàn phùng châm | 24 phần, lệch nửa sơn chiều ngược lại | Theo sách Tam hợp: xét thuỷ (dòng nước) | Tam hợp |
| 60 thấu địa long, 72 xuyên sơn long | 60 hoặc 72 phần | Chia nhỏ long mạch, chọn huyệt | Tam hợp, âm trạch |
| 120 phân kim | 120 phần, mỗi phần 3 độ | Chọn tuyến chính xác trong một sơn | Tam hợp |
| 64 quẻ, 384 hào | 64 hoặc 384 phần | Phép Huyền không đại quái | Tam nguyên |
| 28 tú, 360 độ | 28 phần không đều; 360 phần | Tham chiếu thiên văn cổ; đọc số độ hiện đại | Tuỳ loại |
Hai vòng nhân bàn và thiên bàn lệch so với địa bàn khoảng nửa sơn (7,5 độ), một vòng lệch về một phía, vòng kia về phía ngược lại. Cách giải thích vì sao có độ lệch này khác nhau giữa các sách; có thuyết cho rằng nó phản ánh độ lệch từ mà người xưa quan sát được ở những thời kỳ khác nhau. Đây là giả thuyết được nhắc nhiều, chưa có kết luận thống nhất.
Tầng 24 sơn: vòng nên học đầu tiên
Nếu chỉ học một tầng, hãy học tầng 24 sơn địa bàn chính châm. Vòng này chia đường tròn thành 24 phần bằng nhau, mỗi phần 15 độ, đặt tên bằng 12 địa chi (Tý, Sửu, Dần…), 8 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý; hai can Mậu, Kỷ thuộc trung cung nên không có mặt) và 4 quẻ ở bốn góc (Càn, Khôn, Cấn, Tốn). Cứ ba sơn liền nhau hợp thành một cung 45 độ ứng với một quẻ hậu thiên.
Khi người làm nghề nói "nhà toạ Tý hướng Ngọ" hay "cửa mở hướng Tốn", họ đang đọc từ tầng này. Hầu hết các trường phái phổ biến ở Việt Nam, kể cả Bát trạch vốn chỉ chia tám hướng, đều có lúc cần biết nhà nằm ở sơn nào. Vì vậy trên la kinh, tầng 24 sơn thường được khắc to, có màu phân biệt, và nằm ở vị trí dễ nhìn.
Mẹo nhớ: Tý ở chính bắc, Ngọ ở chính nam, Mão ở chính đông, Dậu ở chính tây. Hai bên mỗi sơn chính này là hai thiên can cùng hành: Nhâm – Quý kẹp Tý, Bính – Đinh kẹp Ngọ, Giáp – Ất kẹp Mão, Canh – Tân kẹp Dậu. Bốn góc là bốn quẻ, mỗi quẻ kẹp giữa hai địa chi. Nắm được khung này thì đọc vòng 24 sơn trên bất kỳ la kinh nào cũng nhanh.
Các tầng phía trong: bát quái, Lạc thư và cửu tinh
Tiên thiên bát quái. Xếp tám quẻ theo thứ tự gắn với Phục Hy trong truyền thuyết: Càn ở nam, Khôn ở bắc, Ly ở đông, Khảm ở tây. Trong phong thuỷ nhà ở, tầng này chủ yếu được nhắc khi bàn về lý thuyết đối đãi âm dương, ít dùng để đọc hướng trực tiếp.
Hậu thiên bát quái. Thứ tự gắn với Văn Vương: Khảm bắc, Ly nam, Chấn đông, Đoài tây, Càn tây bắc, Khôn tây nam, Cấn đông bắc, Tốn đông nam. Đây là tầng dùng nhiều nhất khi đổi hướng ra quẻ, ví dụ nhà hướng đông nam thuộc cung Tốn.
Số Lạc thư. Các số 1 tới 9 xếp theo ô vuông Lạc thư: 1 ở bắc, 9 ở nam, 3 ở đông, 7 ở tây, 5 ở giữa. Huyền không phi tinh lấy chuỗi số này làm đường bay của các sao, nên tầng này giúp người học Huyền không nhìn nhanh cung nào mang số nào.
Cửu tinh và các tầng sao. Một số la kinh khắc tên chín sao (Tham Lang, Cự Môn…) hoặc tên các sao của Bát trạch quanh tám cung. Mỗi phái gán sao theo quy tắc riêng, nên trước khi dùng phải biết tầng đó thuộc phái nào. Đọc lẫn tầng của phái này với phép tính của phái kia là lỗi người mới hay mắc.
Các tầng phía ngoài: chia nhỏ để làm gì
Càng ra ngoài, vòng càng được chia mịn. Vòng 60 hoặc 72 phần chia mỗi sơn thành vài ô nhỏ hơn, gọi là thấu địa long, xuyên sơn long; vòng 120 phân kim chia mỗi sơn thành năm ô, mỗi ô 3 độ. Theo sách Tam hợp, các vòng này dùng để chọn tuyến hướng thật chính xác trong một sơn, chủ yếu khi đặt mộ hoặc xét long mạch. Với nhà phố, nhà ống ở đô thị, mặt tiền đã bị đường và lô đất quyết định, rất ít khi có chỗ để xoay hướng vài độ theo phân kim.
La kinh Tam nguyên thay các vòng đó bằng vòng 64 quẻ, chia đường tròn thành 64 phần không hoàn toàn trùng với 24 sơn. Phái Huyền không đại quái dùng vòng này để gán quẻ cho hướng. Một số la kinh còn chia mỗi quẻ thành sáu hào, ra 384 ô; khi đó mỗi ô chưa tới một độ, sai số của chính phép đo đã lớn hơn bề rộng ô.
Ngoài cùng, nhiều la kinh hiện đại khắc thêm một vòng 360 độ. Đây là tầng hữu ích nhất cho người quen số liệu, vì bạn có thể đọc số độ trước rồi tự tra sang 24 sơn, rồi so với số đo trên điện thoại hay trên bản vẽ. Nếu chiếc la kinh bạn định dùng không có vòng độ, hãy dán tạm một vòng giấy chia độ, hoặc đo song song bằng một la bàn có độ để đối chiếu.
Những tầng có tên nghe nặng nề: hoàng tuyền, bát sát
Trên nhiều la kinh có một hai tầng mang tên như "hoàng tuyền", "bát sát", "bát diệu sát". Người mới thấy tên dễ lo lắng, nhất là khi nghe ai đó nói hướng nhà mình "phạm hoàng tuyền". Thực chất đây là những tầng đánh dấu sẵn một số cặp sơn mà sách Tam hợp và sách dân gian khuyên kiêng phối với nhau, chẳng hạn hướng nước chảy ra so với hướng nhà, hay hướng cửa so với toạ. Tầng đó chỉ là bảng nhắc nhanh cho người đã thuộc quy tắc.
Các quy tắc này khác nhau giữa các sách, và nhiều phái không dùng. Nói một hướng là "xấu" theo tầng hoàng tuyền là nói theo quan niệm của trường phái có quy tắc đó; đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người. Khi xem nhà thật, những thứ đáng kiểm tra hơn là nước mưa thoát về đâu, cửa có đón gió lùa hay nắng gắt không, lối đi có an toàn không — đó là các yếu tố đo được và sửa được bằng thiết kế.
Cách tự làm quen với một chiếc la kinh mới
Thay vì cố hiểu hết mọi tầng, có thể làm quen theo trình tự sau. Mỗi bước nên làm với chính chiếc la kinh của bạn, không phải hình trên mạng.
- Đếm số tầng từ thiên trì ra mép, đánh số tầng bằng bút chì trên một tờ giấy vẽ phác mặt đĩa.
- Tìm tầng hậu thiên bát quái và tầng 24 sơn; kiểm tra Tý có nằm cùng phía với quẻ Khảm, Ngọ cùng phía với Ly không.
- Tìm vòng 360 độ nếu có; kiểm tra chính giữa sơn Tý có ứng với 0 độ, chính giữa Mão ứng 90 độ, Ngọ 180 độ, Dậu 270 độ.
- Xem có hai vòng 24 sơn lệch nửa ô hay không; nếu có, đó là la kinh có tầng Tam hợp.
- Xem có vòng chia 64 ô hay không; nếu có, đó là la kinh có tầng Tam nguyên.
- Ghi tên những tầng còn lại theo tài liệu đi kèm; tầng nào chưa rõ, để trống, không đoán.
- Chỉ học sâu tầng nào khi trường phái bạn đang học thật sự dùng đến nó.
Làm xong bảy bước, bạn có một "bản đồ" cá nhân của chiếc la kinh. Lần sau đọc sách nói tới tầng nào, bạn biết ngay tìm nó ở đâu trên mặt đĩa, thay vì dò từng vòng.
Câu hỏi thường gặp
La kinh bao nhiêu tầng là đủ cho người mới?
Không có con số chuẩn. Người mới học nhà ở thường chỉ cần bát quái hậu thiên, 24 sơn và một vòng độ. Loại mười tầng trở xuống đã dư cho giai đoạn đầu; số tầng nhiều chỉ có ý nghĩa khi bạn học tới phép tính của trường phái dùng các tầng đó.
Ba vòng 24 sơn trên la kinh Tam hợp khác nhau thế nào?
Vòng địa bàn chính châm là vòng gốc dùng đọc toạ hướng. Vòng nhân bàn và vòng thiên bàn có cùng 24 tên nhưng xoay lệch nửa sơn, khoảng 7,5 độ, về hai phía ngược nhau. Theo sách Tam hợp, một vòng dùng xét gò đồi, công trình xung quanh, vòng kia dùng xét dòng nước.
Vì sao có la kinh khắc tầng 360 độ, có cái không?
La kinh cổ không dùng hệ 360 độ của phương Tây. Vòng độ được thêm vào ở các la kinh hiện đại để tiện đối chiếu với la bàn thường, bản vẽ và điện thoại. Đây là tầng có ích cho người học hôm nay, nên ưu tiên chọn loại có vòng này.
Đọc nhầm tầng thì có sao không?
Kết quả tra sẽ sai, vì mỗi tầng là một bảng quy ước khác nhau. Lỗi hay gặp là đọc vòng nhân bàn hoặc thiên bàn thay cho địa bàn khi xem toạ hướng, làm lệch nửa sơn. Cách tránh là đánh dấu sẵn tầng địa bàn chính châm trên la kinh của mình.
Các tầng ngoài cùng có cần đo chính xác tới từng độ không?
Trên lý thuyết là có, vì mỗi ô chỉ vài độ hoặc chưa tới một độ. Trên thực tế, sai số đo ở nhà đô thị do tường không vuông, nhiễu sắt thép và cách đặt la kinh thường đã vài độ, nên kết luận dựa trên các tầng siêu mịn cần được nhìn với độ dè dặt tương ứng.