Trong bát trạch, mỗi ngôi nhà được gán một quẻ gọi là trạch quái, xác định theo hướng toạ (phía lưng nhà): toạ Bắc là Khảm trạch, toạ Nam là Ly trạch, toạ Đông là Chấn trạch, toạ Đông Nam là Tốn trạch, toạ Tây Bắc là Càn trạch, toạ Tây Nam là Khôn trạch, toạ Đông Bắc là Cấn trạch, toạ Tây là Đoài trạch. Bốn trạch đầu là Đông tứ trạch, bốn trạch sau là Tây tứ trạch.
Nghe thì đơn giản, nhưng đây là chỗ nhiều người hiểu lệch nhất: họ lấy hướng mặt tiền thay cho toạ, rồi kết luận "nhà hướng Đông là nhà Đông tứ trạch". Thật ra nhà hướng Đông thì toạ Tây, tức là Đoài trạch, thuộc Tây tứ trạch. Bài này giải thích cách xác định trạch quái cho đúng, mô tả tám kiểu nhà, và chỉ ra vì sao các tài liệu tiếng Việt có lúc nói ngược nhau.
Vì sao bát trạch lấy toạ chứ không lấy hướng
Trong phong thủy, toạ là phía lưng nhà, nơi được coi là chỗ dựa; hướng là phía mặt nhà, nơi đón người và gió vào. Hai thứ luôn đối nhau qua tâm nhà: toạ Bắc thì hướng Nam, toạ Đông Bắc thì hướng Tây Nam. Bát trạch theo sách xếp nhà vào quẻ theo toạ, với ý rằng ngôi nhà "ngồi" trên phương nào thì mang tính của quẻ phương đó.
Lý do sâu xa nằm ở cách người xưa nhìn ngôi nhà như một người ngồi: lưng tựa vào đâu thì đó là gốc, mặt nhìn ra đâu thì đó là nơi tiếp xúc. Tên gọi "nhà toạ Tý hướng Ngọ" (lưng Bắc, mặt Nam) phản ánh đúng thứ tự ấy: nói toạ trước, hướng sau.
Một hệ quả thú vị: vì toạ và hướng đối nhau, nên với ba trục Bắc – Nam, Đông – Tây, Đông Nam – Tây Bắc, Đông Bắc – Tây Nam, chỉ có trục Bắc – Nam là hai đầu cùng nhóm Đông tứ. Ba trục còn lại đều có một đầu Đông, một đầu Tây. Vì vậy, với nhà toạ Bắc hoặc toạ Nam, lấy toạ hay lấy hướng đều ra cùng nhóm; với sáu kiểu nhà còn lại, lấy nhầm là ra nhóm ngược lại.
Đây chính là gốc của rất nhiều tranh cãi. Khi đọc một tài liệu nói "nhà hướng X thuộc Đông tứ trạch", bạn nên xem họ đang dùng quy ước toạ hay quy ước hướng, vì hai quy ước cho hai đáp án khác nhau với phần lớn các hướng.
Bảng tám trạch: toạ, hướng, nhóm và ngũ hành
Bảng dưới xếp tám kiểu nhà theo quy ước của sách (lấy toạ). Cột "Hướng mặt tiền" ghi hướng đối diện để bạn dễ đối chiếu với nhà thật.
| Trạch quái | Toạ (lưng nhà) | Hướng mặt tiền | Nhóm | Hành của quẻ |
|---|---|---|---|---|
| Khảm trạch | Bắc | Nam | Đông tứ | Thủy |
| Ly trạch | Nam | Bắc | Đông tứ | Hỏa |
| Chấn trạch | Đông | Tây | Đông tứ | Mộc |
| Tốn trạch | Đông Nam | Tây Bắc | Đông tứ | Mộc |
| Càn trạch | Tây Bắc | Đông Nam | Tây tứ | Kim |
| Khôn trạch | Tây Nam | Đông Bắc | Tây tứ | Thổ |
| Cấn trạch | Đông Bắc | Tây Nam | Tây tứ | Thổ |
| Đoài trạch | Tây | Đông | Tây tứ | Kim |
Đọc theo cột hướng mặt tiền sẽ thấy điều bất ngờ với nhiều người: nhà mặt tiền nhìn về Đông lại là Đoài trạch, thuộc Tây tứ; nhà mặt tiền nhìn về Tây Nam lại là Cấn trạch, cũng thuộc Tây tứ. Chỉ nhà nhìn về Nam hoặc Bắc là trùng nhóm dù đọc theo toạ hay theo hướng.
Tám kiểu nhà mang những đặc điểm gì theo sách
Khảm trạch (toạ Bắc, hướng Nam). Kiểu nhà được người Việt chuộng nhất từ xưa, khớp câu "làm nhà hướng Nam". Cái lợi thực tế rõ: mùa hè đón gió nồm, mùa đông lưng chắn gió bấc. Theo bát trạch, cung Nam của nhà này là Diên niên.
Ly trạch (toạ Nam, hướng Bắc). Mặt tiền đón gió bấc mùa đông ở miền Bắc, nên nhà quê thường tránh nếu được chọn. Ở đô thị, nhà theo mặt đường nên kiểu này rất thường gặp. Cửa hướng Bắc nhận ánh sáng dịu, ít chói, hợp với phòng làm việc phía trước.
Chấn trạch (toạ Đông, hướng Tây). Mặt tiền đón nắng chiều, bài toán chống nóng là việc đầu tiên. Theo bát trạch, nhà thuộc Đông tứ dù mặt nhìn về Tây.
Tốn trạch (toạ Đông Nam, hướng Tây Bắc). Lưng quay về phía gió mát mùa hè, mặt tiền chịu gió lạnh mùa đông ở miền Bắc và nắng xiên cuối chiều. Thiết kế thường mở thêm cửa sổ phía sau để tận dụng gió Đông Nam.
Càn trạch (toạ Tây Bắc, hướng Đông Nam). Mặt tiền đón gió mát và nắng sáng, được nhiều người ưa vì dễ chịu. Theo bát trạch, đây là nhà Tây tứ.
Khôn trạch (toạ Tây Nam, hướng Đông Bắc). Lưng chịu nắng chiều mùa hè, tường hồi phía sau cần cách nhiệt tốt. Mặt tiền mát nhưng mùa đông đón gió lạnh.
Cấn trạch (toạ Đông Bắc, hướng Tây Nam). Mặt tiền chịu nắng chiều xiên, cần mái hiên, lam che. Theo bát trạch, nhà Tây tứ.
Đoài trạch (toạ Tây, hướng Đông). Mặt tiền đón nắng sớm, lưng chịu nắng chiều. Nhiều người nghĩ đây là nhà Đông tứ vì "hướng Đông", nhưng theo quy ước toạ thì là Tây tứ.
Cách xác định trạch quái cho nhà của bạn
Trước khi tra bất kỳ bảng nào, bạn cần biết chắc nhà mình toạ đâu. Trình tự sau áp được cho nhà phố, nhà vườn và phần lớn nhà ở quê:
- Xác định mặt tiền thật của nhà: thường là mặt có cửa chính, giáp đường hoặc sân trước. Với nhà có cửa chính mở bên hông, nhiều trường phái vẫn lấy mặt giáp đường làm hướng, nhưng có tài liệu lấy theo cửa; nên ghi lại cả hai.
- Đứng trong nhà, quay lưng vào bên trong, mặt nhìn thẳng ra mặt tiền, giữ la bàn hoặc điện thoại ngang, cách xa cửa sắt, tủ lạnh, xe máy ít nhất vài bước.
- Đọc số độ hướng nhìn ra. Lặp lại ở hai, ba điểm dọc mặt tiền và lấy số trung bình nếu có chênh lệch nhỏ.
- Cộng hoặc trừ 180 độ để ra hướng toạ. Ví dụ giả định: đo được hướng 100 độ (Đông) thì toạ là 280 độ (Tây).
- Xếp số độ toạ vào một trong tám cung, mỗi cung 45 độ: Bắc từ 337,5 đến 22,5 độ, Đông Bắc 22,5 đến 67,5, Đông 67,5 đến 112,5, Đông Nam 112,5 đến 157,5, Nam 157,5 đến 202,5, Tây Nam 202,5 đến 247,5, Tây 247,5 đến 292,5, Tây Bắc 292,5 đến 337,5.
- Tra cung toạ ra trạch quái theo bảng ở trên. Ví dụ giả định trên: toạ 280 độ thuộc Tây, nhà là Đoài trạch.
Nếu số độ rơi sát ranh hai cung (cách mép vài độ), kết quả kém chắc chắn. Bài về kiêm hướng và không vong trong danh mục La bàn, la kinh bàn kỹ trường hợp này; với bát trạch, nhiều người làm nghề sẽ đo lại nhiều lần trước khi kết luận.
Tài liệu tiếng Việt vì sao hay nói ngược nhau
Nếu bạn tìm "nhà hướng Đông Nam thuộc trạch gì", rất có thể sẽ gặp hai câu trả lời: một bên nói Tốn trạch (Đông tứ), bên kia nói Càn trạch (Tây tứ). Bên thứ nhất đang gọi nhà theo hướng mặt tiền, bên thứ hai theo toạ như sách. Không ai cố ý nói sai; họ chỉ dùng hai quy ước mà không nói rõ.
Lối gọi theo hướng phổ biến vì nó trực quan: người ta đứng trước nhà, thấy nhà nhìn về đâu thì gọi theo đó. Lối gọi theo toạ đúng với sách nhưng đòi người đọc phải lật ngược trong đầu. Dần dần, trong văn nói, hai lối trộn vào nhau.
Khi áp vào việc ghép người với nhà, khác biệt còn rõ hơn. Lối phổ thông ở Việt Nam thường so hướng mặt tiền với bốn hướng tốt của chủ nhà: người cung Khảm có bốn hướng tốt Đông Nam, Đông, Nam, Bắc, nên "nhà hướng Đông hợp người Khảm". Theo sách, nhà hướng Đông là Đoài trạch, Tây tứ, không cùng nhóm với người Khảm. Hai cách nhìn dẫn tới hai lời khuyên khác nhau cho cùng một ngôi nhà.
Cách xử lý thực tế: khi đọc tài liệu hay nghe tư vấn, hãy hỏi lại "đang lấy theo toạ hay theo hướng". Câu hỏi này không làm khó ai, mà giúp bạn hiểu kết luận được dựng trên nền nào. Bản thân bát trạch là quy ước; biết rõ quy ước nào đang được dùng quan trọng hơn chuyện cãi bên nào đúng.
Nhà có hình dạng phức tạp thì xác định trạch thế nào
Nhà thật không phải lúc nào cũng là hình hộp có một mặt tiền rõ ràng. Một số trường hợp hay gặp và cách người làm nghề thường xử lý:
- Nhà góc hai mặt tiền: thường lấy mặt có cửa chính và lối người ra vào nhiều nhất; nếu hai mặt ngang nhau, lấy mặt giáp đường lớn hơn hoặc mặt có nhiều ánh sáng, cửa sổ hơn.
- Nhà có cổng một hướng, cửa nhà một hướng: cổng là lối vào khuôn viên, cửa là lối vào khối nhà. Phần lớn sách lấy khối nhà để định trạch, còn cổng được xét riêng như một "cửa ngoài".
- Nhà chữ L, chữ U: lấy khối chính (khối có phòng khách, gian thờ hoặc phần lớn diện tích) để định trạch.
- Nhà xây lệch, không vuông góc với đường: đo vuông góc với mặt tường tiền của khối nhà, không đo theo hướng con đường.
- Nhà ống mặt tiền hẹp, cửa chính ở mặt đường: trường hợp dễ nhất, toạ là phía cuối nhà.
- Căn hộ chung cư: chưa có quy ước thống nhất; có người lấy cửa căn hộ, có người lấy ban công hoặc mặt kính lớn. Nên ghi cả hai và hỏi rõ người tư vấn theo cách nào.
Điểm chung của các trường hợp: định trạch là bước quy ước, cần nhất quán. Đã chọn một cách thì đi đến cùng với cách đó, đừng đổi giữa chừng chỉ vì muốn ra kết quả dễ nghe hơn.
Trạch quái dùng để làm gì sau khi đã biết
Biết nhà là trạch gì, bạn mới đặt được tám du niên lên mặt bằng nhà: cung toạ luôn là Phục vị của nhà, các cung còn lại được tính theo quan hệ với quẻ toạ. Ví dụ, với Khảm trạch, cung Nam là Diên niên, cung Đông Nam là Sinh khí, cung Đông là Thiên y; cung Tây Nam là Tuyệt mệnh, cung Đông Bắc là Ngũ quỷ, cung Tây Bắc là Lục sát, cung Tây là Họa hại.
Từ bản đồ du niên của nhà, người theo bát trạch xét cửa chính rơi vào cung nào, bếp và phòng ngủ chính nằm đâu. Đây là cách nhìn "nhà tự thân tốt xấu thế nào", chưa cần đến tuổi của ai. Sau đó mới đến bước so với cung phi của chủ nhà.
Nói cách khác, trạch quái là xương sống của bản đồ du niên. Bạn có thể không tin vào phần cát hung, nhưng việc xác định đúng toạ – hướng vẫn có ích: nó cho biết mặt nào đón nắng chiều, mặt nào đón gió mùa, để thiết kế che nắng, mở cửa sổ cho đúng. Đó là phần ai cũng dùng được, kể cả người không theo phong thủy.
Mọi đánh giá cát hung trong bài là quan niệm của trường phái bát trạch, mức tin tuỳ mỗi người.
Câu hỏi thường gặp
Nhà hướng Đông là Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch?
Theo quy ước của sách là lấy toạ, nhà hướng Đông thì toạ Tây, là Đoài trạch thuộc Tây tứ trạch. Nhiều tài liệu phổ thông lại gọi theo hướng mặt tiền nên xếp vào Đông tứ. Khi đọc, bạn cần xem tài liệu dùng quy ước nào.
Nhà hướng Nam là trạch gì?
Nhà hướng Nam thì toạ Bắc, là Khảm trạch, thuộc Đông tứ trạch. Đây là một trong hai trường hợp dù lấy toạ hay lấy hướng đều ra cùng nhóm, vì cả Bắc lẫn Nam đều thuộc Đông tứ.
Cửa chính mở bên hông nhà thì lấy hướng nào?
Các trường phái chưa thống nhất. Nhiều người lấy mặt nhà giáp đường hoặc mặt có kiến trúc chính làm hướng, rồi xét cửa hông như một cửa đặt ở cung tương ứng. Một số tài liệu lấy luôn hướng cửa. Nên ghi lại cả hai và hỏi rõ người tư vấn.
Đo hướng bằng điện thoại có đủ chính xác để định trạch không?
Thường đủ nếu bạn hiệu chỉnh la bàn, giữ máy nằm ngang và đứng xa kim loại, thiết bị điện. Mỗi cung rộng 45 độ nên sai vài độ ít khi đổi kết quả, trừ khi nhà nằm sát ranh hai cung. Khi đó nên đo nhiều lần ở nhiều điểm.
Một dãy nhà phố cùng hướng thì có cùng trạch không?
Có, nếu cùng toạ thì cùng trạch quái và cùng bản đồ du niên. Khác nhau giữa các căn nằm ở bố cục bên trong, vị trí cửa, cầu thang, bếp và cung phi của từng chủ nhà. Đây cũng là lý do bát trạch hay bị phê bình là quá thô với nhà phố.
Biết trạch quái rồi có cần biết cung phi nữa không?
Tuỳ mục đích. Trạch quái đủ để vẽ bản đồ du niên của ngôi nhà. Muốn xét nhà hợp hay không hợp với người ở, hoặc chia phòng cho từng thành viên, bát trạch cần thêm cung phi. Bạn có thể tra cung phi bằng công cụ trên trang.