Cầu thang nhà ở dễ đi thường có chiều cao mỗi bậc khoảng 150 đến 175 mm và mặt bậc khoảng 250 đến 300 mm, sao cho hai lần chiều cao bậc cộng một lần mặt bậc rơi vào khoảng 600 đến 650 mm, tương ứng một bước chân người lớn. Độ dốc dễ chịu nằm quanh 30 đến 35 độ. Đây là thông lệ thiết kế hay dùng, không phải con số pháp lý; công trình cụ thể cần kiểm theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và ý kiến kiến trúc sư.
Phong thủy dân gian có thêm một lớp nữa: đếm số bậc theo vòng Sinh – Lão – Bệnh – Tử. Bài đếm bậc chi tiết đã có trong danh mục Con số của site; bài này đi ngược chiều, bắt đầu từ kích thước an toàn rồi mới xem lớp đếm bậc khớp vào đâu, để bạn không vì một chữ "Sinh" mà làm thang dốc hơn hay bậc cao hơn.
Ba con số quyết định một bậc thang
Mỗi bậc thang có ba kích thước chính. Chiều cao bậc, còn gọi là cổ bậc, là khoảng nâng lên giữa hai mặt bậc liên tiếp. Mặt bậc là phần chân đặt lên, đo theo chiều đi. Bề rộng vế thang là chiều ngang của cả dãy bậc, quyết định hai người có tránh nhau được hay không. Ngoài ra còn mũi bậc, tức phần mặt bậc nhô ra trước cổ bậc vài centimet, giúp mũi giày không vấp khi đi lên.
Trong ba con số, chiều cao bậc là thứ cần đều nhất. Mắt người không đo từng bậc; chân quen với nhịp của mấy bậc đầu rồi tự đi tiếp. Một bậc cao hơn hoặc thấp hơn các bậc khác chỉ một đến hai centimet đã đủ làm người ta hẫng chân. Chỗ hay lệch nhất là bậc đầu và bậc cuối, do lớp lát sàn tầng dưới và tầng trên dày mỏng khác với lớp ốp bậc. Thợ có kinh nghiệm luôn tính trước độ dày lớp hoàn thiện khi đổ bậc thô.
Mặt bậc quá hẹp làm người đi xuống phải đặt chân chéo, nhất là người mang giày cỡ lớn. Mặt bậc quá rộng lại làm nhịp bước bị gãy, phải bước một bước rưỡi mỗi bậc. Vì thế người ta không chọn mặt bậc riêng lẻ mà chọn theo cặp với chiều cao bậc.
Bảng tham khảo: chiều cao bậc, mặt bậc và cảm giác khi đi
Bảng dưới dùng quy tắc bước chân 2h + b, trong đó h là chiều cao bậc, b là mặt bậc. Quy tắc này thường được gắn với tên kiến trúc sư Pháp François Blondel ở thế kỷ 17 và vẫn được dùng làm điểm khởi đầu trong thiết kế.
| Chiều cao bậc h | Mặt bậc b gợi ý | 2h + b | Độ dốc gần đúng | Cảm giác khi đi |
|---|---|---|---|---|
| 150 mm | 300 mm | 600 mm | khoảng 27 độ | Thoải, hợp người già, tốn diện tích |
| 160 mm | 290 mm | 610 mm | khoảng 29 độ | Dễ đi, phổ biến ở nhà rộng |
| 170 mm | 270 mm | 610 mm | khoảng 32 độ | Cân bằng cho nhà phố |
| 175 mm | 260 mm | 610 mm | khoảng 34 độ | Hơi dốc, vẫn chấp nhận được |
| 190 mm | 230 mm | 610 mm | khoảng 40 độ | Dốc, khó cho người già và trẻ nhỏ |
| 210 mm | 200 mm | 620 mm | khoảng 46 độ | Gần như thang leo, nên tránh trong nhà ở |
Số độ được làm tròn từ tỉ lệ h chia b. Bạn sẽ thấy nhiều nhà ống cũ có bậc trên 190 mm vì tiết kiệm chiều dài; đó là một trong những lý do người lớn tuổi ngại lên tầng.
Tính số bậc từ chiều cao tầng: các bước làm
Chiều cao tầng tính từ mặt sàn hoàn thiện tầng dưới đến mặt sàn hoàn thiện tầng trên, không phải từ sàn thô. Từ con số đó, bạn có thể tự tính như sau:
- Đo hoặc lấy trên bản vẽ chiều cao tầng hoàn thiện, gọi là H.
- Chọn chiều cao bậc mong muốn, ví dụ 165 mm, rồi lấy H chia cho số đó để ra số cổ bậc gần đúng.
- Làm tròn thành số nguyên rồi tính lại chiều cao bậc thật bằng H chia cho số cổ bậc, để mọi bậc bằng nhau tuyệt đối.
- Từ chiều cao bậc thật, tính mặt bậc theo 2h + b trong khoảng 600 đến 640 mm.
- Số mặt bậc thường bằng số cổ bậc trừ một, vì mặt sàn tầng trên đóng vai mặt bậc cuối; nhân số mặt bậc với b để ra chiều dài cầu thang trên mặt bằng.
- So chiều dài này với chỗ trống thực tế; thiếu thì chia thành hai vế có chiếu nghỉ, hoặc đổi sang chữ L, chữ U.
- Cuối cùng mới xét lớp đếm bậc theo quan niệm, nếu gia đình muốn.
Phần lớn sai sót đến từ bước một: lấy chiều cao sàn thô, rồi lớp gạch, lớp vữa làm bậc đầu hoặc bậc cuối chênh lên vài centimet.
Ví dụ giả định: tầng cao 3,3 mét
Ví dụ giả định: nhà phố có tầng một cao 3.300 mm tính theo sàn hoàn thiện. Chọn chiều cao bậc mong muốn 165 mm, ta có 3.300 chia 165 bằng đúng 20 cổ bậc. Nếu chọn 21 cổ bậc, chiều cao bậc là khoảng 157 mm, dễ đi hơn; nếu chọn 19 cổ bậc, chiều cao bậc là khoảng 174 mm, vẫn trong vùng chấp nhận được nhưng hơi dốc.
Với phương án 21 cổ bậc, mặt bậc theo 2h + b khoảng 620 mm là khoảng 306 mm, có thể làm 300 mm. Số mặt bậc là 20, chiều dài cầu thang trên mặt bằng là khoảng 6 mét nếu đi thẳng một mạch. Nhà ống rộng bốn mét thường không muốn một cầu thang thẳng dài như vậy, nên sẽ chia hai vế, mỗi vế khoảng mười bậc, có chiếu nghỉ ở giữa.
Nếu gia đình đếm theo vòng Sinh – Lão – Bệnh – Tử và đếm theo số cổ bậc, 21 rơi vào chữ Sinh, 20 rơi vào chữ Tử, 19 rơi vào chữ Bệnh. Trong ví dụ này, phương án dễ đi nhất cũng là phương án "đẹp" theo cách đếm, nên không có xung đột. Khi hai bên vênh nhau, lời khuyên của bài là giữ chiều cao bậc trong vùng dễ đi và chấp nhận con số còn lại, vì có nhiều cách đếm khác nhau và không cách nào được mọi người công nhận.
Chiếu nghỉ, bậc rẻ quạt và những chỗ hay gây ngã
Chiếu nghỉ. Một vế thang dài liên tục hơn mười lăm đến mười tám bậc làm người đi mệt và nếu trượt thì ngã dài. Thông lệ thiết kế là chia vế, đặt chiếu nghỉ có chiều sâu ít nhất bằng bề rộng vế thang. Chiếu nghỉ cũng là chỗ đặt cửa sổ, đặt chậu cây nhỏ mà không vướng lối.
Bậc rẻ quạt ở chỗ rẽ. Để tiết kiệm chỗ, nhiều nhà thay chiếu nghỉ bằng ba bốn bậc hình quạt. Mặt bậc ở phía trong gần như bằng không, người đi sát tay vịn phía trong rất dễ hụt chân. Nếu bắt buộc dùng, hãy giữ mặt bậc ở đường đi giữa vế bằng các bậc thẳng và có tay vịn phía ngoài.
Bậc đầu và bậc cuối lệch chiều cao. Như đã nói, đây là lỗi phổ biến nhất. Kiểm bằng thước sau khi lát xong, trước khi nghiệm thu.
Mặt bậc bóng trơn. Đá bóng, gỗ phủ sơn bóng đẹp nhưng trơn khi đi tất hoặc khi ướt. Nên có rãnh chống trơn ở mũi bậc hoặc chọn bề mặt mờ.
Thiếu đèn ở chân và đầu thang. Bậc đầu và bậc cuối là chỗ người ta hay đánh giá sai khoảng cách. Đèn hắt chân bậc hoặc đèn tường ở hai đầu giúp nhìn rõ mép bậc ban đêm.
Tay vịn, mũi bậc và ánh sáng: những chi tiết đi cùng kích thước
Một cầu thang có kích thước bậc chuẩn vẫn có thể khó đi nếu thiếu ba chi tiết đi kèm. Thứ nhất là tay vịn. Tay vịn nên chạy liên tục từ bậc đầu đến bậc cuối, vượt qua mép bậc cuối một đoạn ngắn để người đi còn bám được khi đặt chân xuống sàn. Tiết diện tay vịn vừa lòng bàn tay, không vuông cạnh sắc, đặt ở độ cao mà người lớn cầm tự nhiên khi đứng trên bậc. Nhà có trẻ nhỏ có thể làm thêm một tay vịn thấp hơn ở cùng phía.
Thứ hai là mũi bậc. Mũi bậc nhô ra vài centimet giúp mặt bậc hiệu quả rộng hơn mà không làm thang dài thêm. Nhưng mũi bậc nhô quá nhiều, hoặc có gờ vuông sắc, lại làm mũi giày vướng khi đi lên. Mũi bậc nên vát hoặc bo nhẹ, và nếu dùng nẹp chống trơn thì nẹp phải bắt phẳng, không cộm.
Thứ ba là sự tương phản ở mép bậc. Bậc đá cùng màu, cùng vân từ trên xuống dưới nhìn rất đẹp nhưng mắt người khó phân biệt mép bậc, nhất là người lớn tuổi thị lực kém. Một dải màu khác ở mũi bậc, hoặc đèn hắt chân bậc chiếu từ bên hông, giúp nhìn rõ từng mép. Trong phong thủy, cầu thang sáng sủa được coi là khí lên thuận; về thực tế, cầu thang sáng là cầu thang ít người ngã.
Khi người nhà muốn đếm bậc mà kiến trúc sư không đồng ý
Đây là tình huống rất thường gặp. Người lớn tuổi trong nhà muốn số bậc rơi vào chữ Sinh, người thiết kế muốn giữ bậc đều và thoải. Thực ra hai bên hiếm khi xung đột thật, vì chỉ cần thêm hoặc bớt một bậc, chiều cao mỗi bậc chỉ đổi vài milimet. Xung đột chỉ xảy ra khi chiều dài có hạn, thêm một bậc là thiếu chỗ, bớt một bậc là bậc vượt quá 180 mm.
Có vài cách gỡ. Có thể đổi điểm bắt đầu đếm theo một biến thể khác mà gia đình chấp nhận, vì chính các biến thể dân gian đã khác nhau ở chỗ đếm cổ bậc hay mặt bậc, có tính bậc tam cấp ngoài nhà hay không. Có thể nâng cốt sàn tầng một lên một chút nếu nền còn cho phép. Có thể chia lại vế thang để chiếu nghỉ nhận thêm một bậc. Không nên chọn cách làm một bậc cao hơn các bậc còn lại để "đủ số", vì đó chính là thứ gây ngã.
Hãy nói rõ với người nhà rằng đếm bậc là một tập quán, có giá trị gắn kết và yên tâm, còn bậc đều là chuyện an toàn cho chính họ khi lên xuống mỗi ngày. Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người, nhưng chiều cao bậc thì đo được.
Câu hỏi thường gặp
Chiều cao bậc cầu thang tối đa bao nhiêu là chấp nhận được trong nhà ở?
Thông lệ thiết kế nhà ở thường giữ chiều cao bậc không quá khoảng 175 đến 180 mm. Trên mức này, người già và trẻ nhỏ đi khó, nhất là khi xuống. Con số áp dụng cho công trình cụ thể cần kiểm theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và ý kiến kiến trúc sư.
Mặt bậc rộng bao nhiêu thì đủ đặt cả bàn chân?
Mặt bậc khoảng 250 đến 300 mm cho phép phần lớn người lớn đặt gần trọn bàn chân, cộng thêm mũi bậc nhô vài centimet. Dưới 230 mm, người đi xuống thường phải đặt chân chéo hoặc đi nghiêng người.
Đếm bậc theo Sinh – Lão – Bệnh – Tử thì đếm cổ bậc hay mặt bậc?
Các biến thể dân gian không thống nhất. Có nơi đếm số lần bước chân, tương ứng số cổ bậc; có nơi đếm số mặt bậc nhìn thấy; có nơi tính cả bậc tam cấp ngoài cửa. Bài đếm bậc trong danh mục Con số của site liệt kê các biến thể này.
Cầu thang có chiếu nghỉ thì đếm bậc thế nào?
Phần lớn người đếm bỏ qua chiếu nghỉ, chỉ đếm bậc của cả hai vế cộng lại. Một số người đếm riêng từng vế. Không có quy ước chung, nên gia đình chọn một cách và giữ cho nhất quán giữa các tầng.
Cầu thang cũ quá dốc có sửa được không?
Có thể kéo dài cầu thang nếu còn chỗ, thêm bậc phụ ở chân thang, hoặc thay bậc rẻ quạt bằng chiếu nghỉ. Mọi thay đổi chạm đến bản thang bê tông cần thợ kiểm kết cấu. Cách nhẹ hơn là thêm tay vịn hai bên, dải chống trơn và đèn chân bậc.
Bề rộng vế thang bao nhiêu là đủ cho nhà phố?
Nhiều thiết kế nhà phố dùng vế thang khoảng 900 mm đến một mét, đủ cho một người đi và khiêng đồ vừa. Muốn hai người tránh nhau thoải mái hoặc chuyển đồ lớn thì cần rộng hơn. Nên tính trước đường đưa tủ, giường lên tầng.