Phong-thuy.comPhong Thủy
Bếp

Gian bếp nhà Việt xưa: vì sao bếp đứng riêng ngoài nhà chính và điều còn đáng học

Nhà quê Việt xưa đặt bếp thành gian riêng, mái thấp, có khe thoát khói, gần giếng và sân. Lý do chống cháy, giữ sạch nhà chính, cách vùng miền làm bếp và bài học hôm nay.

Smoky interior of an old rural kitchen in Ninh Binh, three stones holding a blackened pot over a straw fire, light beams through gaps in a thatched roof, no faces

Trong nhiều ngôi nhà quê Việt xưa, bếp là một gian riêng hoặc một nếp nhà phụ đứng cạnh nhà chính, thường mái thấp, có khe hở để thoát khói, gần giếng, sân và chuồng. Lý do chính là chống cháy cho nhà chính lợp rạ, giữ khói và tro khỏi gian thờ, gian tiếp khách, và gom các việc nấu nướng, nấu cám, chứa chất đốt vào một chỗ.

Cách làm này khác nhau giữa các vùng: nhà sàn của nhiều dân tộc vùng núi lại đặt bếp lửa ngay trong nhà, giữa sàn. Bài này kể lại những gì phổ biến về gian bếp xưa, phân biệt điều chắc với điều chỉ là tập quán từng nơi, và rút ra những nguyên tắc còn dùng được cho nhà hôm nay. Những điều kiêng quanh bếp được nhắc như tập quán, mức tin tuỳ mỗi người.

Bếp trong bố cục ngôi nhà quê đồng bằng

Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, ngôi nhà truyền thống thường gồm nhà chính (nhiều nơi gọi là nhà trên) với số gian lẻ như ba gian hay năm gian, gian giữa đặt bàn thờ; bên cạnh hoặc phía trước một bên là nhà ngang, nhà phụ, trong đó có bếp. Hai nếp nhà quây lấy một khoảng sân gạch hay sân đất, dùng để phơi thóc, phơi rơm. Quanh đó là ao, vườn, giếng, chuồng gà, chuồng lợn tuỳ từng nhà.

Gian bếp thường thấp hơn nhà chính, vách đất trát rơm hoặc vách tre, mái rạ. Bên trong có chỗ kê bếp, chỗ chứa rơm rạ, củi khô làm chất đốt, chạn để bát đĩa, chum vại đựng nước, đựng mắm, đựng gạo. Nhiều nhà nấu cám lợn ngay trong bếp, nên gian bếp vừa là chỗ nấu ăn cho người, vừa là chỗ làm việc của cả gia đình.

Bố cục này không theo một bản vẽ chuẩn nào. Mỗi làng, mỗi nhà làm theo đất, theo tiền và theo nếp của gia đình. Điều chung là bếp hầu như không nằm trong nhà chính, không ở gian giữa, và không đối diện thẳng với cửa gian thờ.

Vì sao bếp đứng riêng ngoài nhà chính

Chống cháy. Mái rạ, mái tranh, vách tre rất dễ bắt lửa. Bếp đun rơm, đun củi có lửa trần, tàn lửa bay theo gió. Tách bếp thành một nếp riêng, mái thấp, cách nhà chính một khoảng sân là cách đơn giản nhất để nếu bếp cháy, lửa không lan ngay vào nơi để thóc, để đồ thờ.

Giữ khói và tro khỏi nhà chính. Bếp củi xưa không có ống khói kín, khói lan khắp gian và ám đen mái, vách. Nhà chính là nơi thờ cúng, tiếp khách, cất đồ quý; giữ khói ở gian bếp riêng giúp nhà chính sạch và không ám mùi.

Gom việc nặng vào một chỗ. Nấu ăn, nấu cám, đun nước tắm, chứa rơm rạ đều là việc nặng, bẩn, cần chỗ rộng. Gian bếp cạnh sân, giếng và chuồng giúp đường đi ngắn: múc nước, ôm rơm, đổ cám đều trong vài bước.

Theo quan niệm: tách chỗ lửa khỏi chỗ thờ. Nhiều gia đình giữ ý không để bếp ngay sau lưng hay đối diện bàn thờ gia tiên. Đây là nếp ứng xử, có lẽ bắt nguồn từ cả lý do thực tế là khói, tro bám lên đồ thờ.

Gian bếp ở các vùng: vài nét phổ biến

Bảng dưới chỉ nêu những nét hay được nhắc đến; trong từng vùng có rất nhiều biến thể theo dân tộc, làng và gia đình.

Vùng, kiểu nhàBếp nằm ở đâuNét đáng chú ý
Đồng bằng Bắc Bộ, nhà gianNhà ngang hoặc gian phụ bên cạnh nhà chínhMái thấp, vách đất, chứa rơm rạ, gần sân và giếng
Nhà rường vùng Huế và Trung BộThường là nhà phụ phía sau hoặc bên hôngTách khỏi nhà chính thờ tự; gần vườn
Nam Bộ, nhà trên – nhà dướiNhà dưới, phía sau hoặc bên cạnh nhà trênNhà trên thờ cúng, tiếp khách; nhà dưới là chỗ nấu ăn, sinh hoạt
Nhà sàn nhiều dân tộc vùng núiBếp lửa ngay trong nhà, trên sànBếp sưởi ấm, giữ lửa; gác bếp sấy thóc, ngô, thịt
Nhà trình tường, nhà đất vùng caoThường trong nhà hoặc gian liền kềLửa bếp sưởi ấm mùa lạnh, khói hun mái chống mối mọt

So sánh cho thấy lý do đặt bếp phụ thuộc khí hậu nhiều hơn là một luật phong thủy chung. Đồng bằng nóng ẩm cần đẩy hơi nóng, khói ra xa chỗ ở; vùng núi lạnh lại cần bếp ở giữa nhà để sưởi và giữ lửa.

Khói bếp trên nhà sàn còn có tác dụng hun khô mái, gác, được nhiều người cho là giúp đồ cất giữ lâu hỏng. Đây là kinh nghiệm dân gian được nhắc nhiều, mức độ cụ thể tuỳ từng nơi.

Ông đầu rau, giữ lửa và những điều kiêng quanh bếp

Bếp xưa đơn giản nhất là ba hòn đầu rau bằng đất nung hoặc đá kê thành kiềng, đặt nồi lên trên, đun rơm, đun củi bên dưới. Hình ảnh ba hòn đầu rau gắn với tín ngưỡng Táo quân của người Việt; câu chuyện thần thoại ấy đã có nhiều trang viết riêng, ở đây chỉ nhắc như một lớp văn hoá quanh gian bếp.

Nhiều gia đình xưa giữ nếp ủ than, ủ tro để sáng hôm sau nhóm lửa nhanh, vì thời trước diêm, bật lửa chưa phổ biến. Từ đó có tập quán coi bếp lạnh lâu ngày là điều không vui, bếp ấm là nhà có hơi người. Đây là cách nói về sự đủ đầy, không phải lời doạ.

Quanh bếp có những điều kiêng được truyền miệng: không bước qua bếp, không gõ vào hòn đầu rau, không đặt chân lên kiềng, không nói tục khi nấu. Phần lớn các điều kiêng ấy có thể hiểu theo nghĩa giữ an toàn cho trẻ nhỏ gần lửa, giữ sạch nơi nấu ăn và giữ ý tôn trọng một chỗ quan trọng của nhà. Mỗi vùng, mỗi nhà có lệ khác nhau; bạn giữ đến đâu là lựa chọn của gia đình.

Tro bếp cũng được dùng lại: bón vườn, rắc chuồng, có nơi dùng để rửa nồi niêu. Gian bếp xưa vì thế nằm trong một vòng sinh hoạt khép kín với vườn, ao, chuồng, ít thứ bị bỏ phí.

Gian bếp xưa nhìn từ phong thủy làng quê

Những sách phong thủy được dịch và lưu truyền ở Việt Nam bàn về bếp khá nhiều, nhưng người nông dân dựng nhà xưa chủ yếu làm theo kinh nghiệm truyền miệng hơn là theo sách. Ở nhiều nơi, khi dựng nhà, gia đình nhờ người có kinh nghiệm trong làng xem hướng nhà chính trước, rồi mới đặt nhà bếp vào phần đất còn lại sao cho thuận sân, thuận giếng.

Một số nguyên tắc dân gian hay được nhắc là bếp không nhìn thẳng vào cửa gian giữa nhà chính, nước giếng và chum nước đặt gần bếp nhưng không đặt ngay trước miệng lò, và khói bếp nên thoát về phía cuối gió để không bay vào nhà chính. Những nguyên tắc này rất gần với các lời khuyên phong thủy về bếp hôm nay, chỉ khác ở chỗ chúng được nói bằng ngôn ngữ đời thường.

Cũng cần dè dặt: không có một "chuẩn" phong thủy nhà quê duy nhất. Mỗi vùng đất, mỗi kiểu gió mùa, mỗi nếp làng có cách đặt bếp riêng. Khi đọc ở đâu đó rằng "nhà Việt xưa bao giờ cũng đặt bếp bên trái" hay "bếp phải quay hướng này", bạn nên coi đó là tập quán của một nơi, không phải quy tắc chung của cả nước.

Những điều từ gian bếp xưa còn dùng được hôm nay

Tách khói khỏi chỗ ở. Ngày nay không cần một nếp nhà riêng, nhưng nguyên tắc vẫn đúng: bếp nên có đường thoát khói riêng ra ngoài, có cửa hoặc vách để khói không lan sang phòng ngủ, phòng thờ.

Thoát khí nóng ở trên cao. Khe hở dưới mái, lỗ thoáng ở đầu hồi của gian bếp xưa là cách để khí nóng bốc lên thoát ra. Bếp hôm nay có thể học bằng ô thoáng cao, cửa chớp phía trên tường sau.

Đặt bếp gần nước và sân sau. Bếp xưa gần giếng, gần sân; bếp nay nên gần chậu rửa, gần lô gia hay sân phơi, đường nước ngắn, dễ đổ rác.

Chỗ cất đồ khô ráo, thoáng. Chạn bát có nan thưa, gác bếp thoáng là những cách giữ đồ khô. Tủ bếp hôm nay nên có hộc thoáng cho rổ rá, khay úp bát có thoát nước.

Vật liệu chịu nhiệt, dễ thay. Bếp xưa dùng đất nung, gạch, đá quanh chỗ lửa vì chịu nóng và hỏng thì thay từng viên. Bếp hôm nay có thể học bằng cách ốp gạch hoặc đá sau bếp nấu, tránh gỗ, nhựa, giấy dán tường ở vùng nóng, và chọn vật liệu sửa được từng phần thay vì phải thay cả mảng.

Giữ bếp cách gian thờ. Dù theo tín ngưỡng hay không, giữ hơi nóng và dầu mỡ khỏi đồ thờ là điều hợp lý về giữ gìn đồ vật.

Làm nhà mới ở quê: giữ lại tinh thần bếp xưa

Nhiều gia đình xây nhà mới ở quê muốn bếp hiện đại mà vẫn thoáng như bếp xưa. Ví dụ giả định dưới đây là một nhà cấp bốn ba gian trên lô đất có sân trước và vườn sau:

  1. Đặt khối bếp ở phía sau một bên nhà chính, nối bằng một đoạn hiên có mái, để mưa không ướt mà khói vẫn tách.
  2. Làm tường bếp có cửa sổ thấp cho chậu rửa và ô thoáng cao phía trên bếp nấu cho khí nóng thoát ra.
  3. Bố trí đường đi từ bếp ra giếng hoặc bể nước, ra sân phơi và chuồng gà ngắn nhất.
  4. Nếu vẫn dùng bếp củi cải tiến để nấu bánh chưng, nấu cám, xây một góc riêng có mái cao, cách xa vật dễ cháy, cạnh bếp gas hoặc bếp từ dùng hằng ngày.
  5. Giữ gian giữa nhà chính cho bàn thờ và tiếp khách, không đặt bếp sau lưng bàn thờ.

Cách bố trí này giữ được cái lợi lớn nhất của bếp xưa là tách khói, tách nhiệt, gần nước, mà vẫn tiện cho sinh hoạt hôm nay. Nó cũng trùng với nhiều lời khuyên phong thủy về bếp, vốn có gốc từ chính những ngôi nhà như thế.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao nhà quê xưa ít khi đặt bếp trong nhà chính?

Lý do chính là chống cháy vì mái rạ, vách tre dễ bắt lửa, và giữ khói, tro khỏi gian thờ, gian tiếp khách. Ngoài ra, bếp xưa còn là chỗ nấu cám, chứa rơm rạ, cần không gian rộng và gần sân, giếng.

Nhà sàn vùng núi đặt bếp trong nhà có trái phong thủy không?

Không nên áp một luật cho mọi vùng. Ở vùng núi lạnh, bếp lửa trong nhà để sưởi, giữ lửa, sấy đồ trên gác là lựa chọn hợp khí hậu và văn hoá của từng dân tộc. Đây là nếp sống, không phải lỗi bố trí.

Gác bếp là gì và còn dùng được không?

Gác bếp là giàn treo phía trên bếp lửa để hun khô thóc giống, ngô, thịt, cá. Ở bếp điện, bếp từ ngày nay không còn khói nên gác bếp không còn tác dụng hun; nhiều nhà giữ như một nét trang trí hoặc dùng bếp củi riêng để làm đồ gác bếp.

Những điều kiêng quanh bếp xưa có cần giữ không?

Đó là tập quán, mức tin tuỳ gia đình. Phần lớn các điều kiêng như không bước qua bếp, không đặt chân lên kiềng có thể hiểu theo nghĩa an toàn và giữ sạch. Giữ những điều có ích cho an toàn là hợp lý dù bạn không theo tín ngưỡng.

Nhà ở quê bây giờ có nên làm bếp củi không?

Nhiều nhà vẫn giữ một góc bếp củi để nấu bánh chưng, nấu nồi lớn dịp giỗ Tết. Nếu làm, đặt ở chỗ thoáng, mái cao, xa vật dễ cháy và có đường thoát khói. Bếp nấu hằng ngày nên dùng gas có van an toàn hoặc bếp điện.

Nhà trên nhà dưới ở Nam Bộ là gì?

Đây là cách gọi phổ biến ở Nam Bộ cho bố cục hai nếp nhà: nhà trên ở phía trước dùng để thờ cúng, tiếp khách; nhà dưới ở phía sau hoặc bên cạnh dùng để nấu ăn, ăn uống và sinh hoạt thường ngày. Bố cục cụ thể khác nhau tuỳ gia đình.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183