Ngũ sắc trong phong thủy là năm màu gốc — xanh, đỏ, vàng, trắng, đen — được gán cho năm phương: Đông xanh, Nam đỏ, Trung tâm vàng, Tây trắng, Bắc đen. Mỗi màu đi cùng một hành trong ngũ hành (Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy), một mùa và một linh vật canh giữ phương đó. Mọi lời khuyên "phòng phía Nam nên có chút đỏ", "góc Tây hợp màu trắng" mà bạn nghe hôm nay đều mọc ra từ bảng năm màu cũ này.
Hiểu được gốc của bảng màu giúp bạn đọc các lời khuyên về màu sắc trong nhà một cách tỉnh táo: chỗ nào là quan sát thiên nhiên có lý, chỗ nào là quy ước văn hoá, chỗ nào là cách hiểu ép của đời sau. Bài này đi từ nguồn gốc, qua cách cung đình và dân gian Việt dùng màu, tới mức dùng hợp lý trong một căn nhà bây giờ. Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người.
Ngũ sắc là gì và vì sao gắn với năm phương
Trong tư tưởng cổ Trung Hoa, không gian được chia thành năm phương: bốn phương chính và trung tâm. Mỗi phương được gán một màu, và tập hợp năm màu ấy gọi là ngũ sắc hay ngũ chính sắc. Thiên Khảo công ký trong sách Chu lễ thường được dẫn khi bàn về chuyện này: phương Đông gọi là xanh, phương Nam gọi là đỏ, phương Tây gọi là trắng, phương Bắc gọi là đen, còn đất gọi là vàng. Từ đó, năm màu được ghép tiếp với ngũ hành, với bốn mùa và với tứ linh: Thanh Long phương Đông, Chu Tước phương Nam, Bạch Hổ phương Tây, Huyền Vũ phương Bắc.
Tên của tứ linh đã chứa sẵn màu: "thanh" là xanh, "chu" là đỏ son, "bạch" là trắng, "huyền" là đen huyền. Đây không phải chuyện ngẫu nhiên mà là một hệ thống phân loại: người xưa muốn mọi thứ trong trời đất — phương, mùa, màu, vị, âm thanh, tạng phủ — xếp được vào năm ngăn để dễ nhớ và dễ suy luận.
Phong thủy kế thừa nguyên hệ thống đó. Khi một thầy phong thủy nói "khu phía Nam thuộc Hỏa, màu đỏ", họ đang dùng đúng ngăn xếp năm màu này, ghép thêm bát quái hậu thiên để chia nhỏ thành tám phương và trung cung. Vì vậy, muốn hiểu bất kỳ lời khuyên màu sắc nào, điểm xuất phát luôn là bảng ngũ sắc.
Đọc lại năm màu bằng mùa, mặt trời và đất
Đông – xanh – mùa xuân. Mặt trời mọc ở phía Đông, mùa xuân là lúc cây cối đâm chồi; màu của lá non và mạ non được lấy làm màu của phương này. Gắn với hành Mộc vì Mộc là sinh trưởng.
Nam – đỏ – mùa hạ. Ở lưu vực sông Hoàng Hà, nơi hệ thống này hình thành, mặt trời buổi trưa luôn nằm ở phía Nam; phía Nam là phía nóng và sáng nhất. Màu lửa, màu nắng gắt thành màu của phương Nam, hành Hỏa.
Tây – trắng – mùa thu. Mặt trời lặn phía Tây, mùa thu se lạnh, sương muối trắng, lúa chín được gặt bằng liềm kim loại. Hành Kim gắn với sự thu lại, cắt gọt, và màu trắng của kim loại sáng, của sương.
Bắc – đen – mùa đông. Phía Bắc là phía không bao giờ có mặt trời giữa trưa, là phía gió lạnh thổi về; mùa đông, đêm dài và nước sâu được gom vào màu đen huyền, hành Thủy.
Trung tâm – vàng – đất. Đất hoàng thổ của vùng Trung Nguyên có sắc vàng; đất ở giữa nuôi mọi phương nên màu vàng được đặt ở trung tâm, hành Thổ, và về sau trở thành màu dành cho bậc đế vương.
Một lưu ý cho người Việt. Bảng màu này sinh ra ở vĩ độ cao hơn Việt Nam nhiều. Ở Nam Bộ, mặt trời có những tháng đứng gần thiên đỉnh hoặc hơi lệch về phía Bắc; gió mùa mát lại thường thổi từ hướng Nam, Đông Nam vào mùa hè. Quan sát gốc vẫn đúng ở chỗ phía Tây nắng chiều gắt, nhưng đừng coi mọi liên tưởng khí hậu trong bảng là đúng y nguyên cho nhà mình.
Bảng ngũ sắc: màu gốc, sắc mở rộng và các thứ đi kèm
Bảng dưới gom các liên tưởng phổ biến nhất. Cột "sắc mở rộng" là cách phong thủy hiện đại nới năm màu gốc ra để áp vào sơn, vải, đồ đạc; các trường phái không hoàn toàn thống nhất ở cột này.
| Hành | Phương | Màu gốc | Sắc mở rộng hay dùng | Mùa | Linh vật |
|---|---|---|---|---|---|
| Mộc | Đông | Xanh (thanh) | xanh lá, xanh rêu, xanh ngọc | Xuân | Thanh Long |
| Hỏa | Nam | Đỏ | đỏ, cam, hồng, tím | Hạ | Chu Tước |
| Thổ | Trung tâm | Vàng | vàng đất, nâu, be, kem | Cuối mỗi mùa | (Hoàng Long hoặc không gán) |
| Kim | Tây | Trắng | trắng, xám bạc, ánh kim | Thu | Bạch Hổ |
| Thủy | Bắc | Đen | đen, xanh dương đậm, xanh than | Đông | Huyền Vũ |
Chỗ hay gây lẫn là chữ "thanh". Trong Hán văn cổ, "thanh" chỉ cả xanh lá lẫn xanh lam, thậm chí sắc xanh đen; tiếng Việt "xanh" cũng mơ hồ y như vậy ("trời xanh", "lá xanh"). Phong thủy hiện đại tách ra: xanh lá cho Mộc, xanh dương cho Thủy. Cách tách này tiện dùng nhưng là quy ước của đời sau, nên bạn sẽ gặp sách xếp xanh dương vào Mộc. Không bên nào "sai" theo nghĩa kiểm chứng được — chỉ là hai cách quy ước.
Tương tự, tím và hồng được xếp vào Hỏa vì cùng họ với đỏ, be và kem vào Thổ vì gần màu đất. Khi một bài viết khẳng định cứng một màu thuộc một hành, nên hiểu đó là quy ước phổ biến chứ không phải định luật.
Màu trong kiến trúc cung đình và nhà dân Việt
Ở kiến trúc cung đình, ngũ sắc được dùng có chủ đích. Tại kinh thành Huế, những công trình quan trọng nhất như điện Thái Hòa lợp ngói hoàng lưu ly — ngói tráng men vàng, sắc màu của trung tâm và của nhà vua; nhiều công trình khác dùng ngói men xanh. Đàn Nam Giao ở Huế, nơi tế trời đất, theo mô tả phổ biến có tầng trên hình tròn tượng trời và tầng giữa hình vuông tượng đất, mỗi tầng một màu riêng. Màu ở đây là ngôn ngữ của thứ bậc và nghi lễ hơn là của "vận khí".
Ở đình, chùa, miếu, sắc đỏ son và vàng thếp trên hoành phi, câu đối, cửa võng tạo không khí trang nghiêm; cờ ngũ hành năm màu cắm trong ngày hội làng nhắc lại đúng bảng năm phương. Nhưng phần thân công trình — cột gỗ, tường gạch, mái ngói — thường để màu vật liệu.
Nhà dân Việt xưa hầu như không "chọn màu" theo nghĩa bây giờ. Màu nhà là màu của thứ có sẵn: tường đất trình, tường vôi trắng ngả vàng, gạch nung đỏ, gỗ để mộc rồi sẫm dần theo năm tháng, mái rạ hay ngói ta. Có những vùng còn giữ tục kiêng dùng sắc vàng, sắc đỏ quá rực cho nhà ở vì đó là màu của vua và của đình chùa. Điều này cho thấy một điểm đáng nhớ: phong thủy màu sắc theo kiểu "sơn tường theo phương vị" là thực hành khá mới, gắn với sơn công nghiệp và nội thất hiện đại, chứ không phải nếp nhà truyền thống.
Từ năm màu đến tương sinh, tương khắc: phong thủy hiện đại dùng thế nào
Khi đã có bảng năm màu, phong thủy nhà ở dùng thêm quan hệ sinh – khắc của ngũ hành để quyết định phối màu. Logic thường gặp gồm mấy tầng:
- Màu bản vị: một khu trong nhà mang màu của chính hành thuộc phương đó, ví dụ khu phía Đông có điểm xanh lá.
- Màu tương sinh: dùng màu của hành sinh ra hành bản vị để "nuôi" nó — khu Hỏa phía Nam thêm xanh lá vì Mộc sinh Hỏa; khu Kim phía Tây thêm vàng đất vì Thổ sinh Kim.
- Màu tiết chế: khi một khu bị coi là quá mạnh (ví dụ phía Tây nắng chiều, nóng), người ta dùng màu của hành mà nó sinh ra để "xả bớt", hoặc màu của hành khắc nó ở mức nhẹ.
- Màu tránh dùng nhiều: màu của hành khắc hành bản vị, ví dụ nhiều đỏ ở khu Kim phía Tây, vì Hỏa khắc Kim.
- Màu thông quan: khi hai mảng màu khắc nhau đứng cạnh nhau, chen một màu của hành trung gian để nối, ví dụ giữa xanh dương (Thủy) và đỏ (Hỏa) chen một mảng gỗ xanh lá (Mộc).
Cách suy luận này có tính hệ thống, dễ áp dụng, và điều thú vị là nhiều kết luận của nó trùng với cảm giác thị giác: khu nóng nắng dùng màu mát dịu; hai màu tương phản gắt đứng cạnh nhau thì chen màu trung tính cho dịu mắt. Nhưng hệ thống cũng dễ bị đẩy tới mức máy móc, như phần sau sẽ nói.
Những chỗ ngũ sắc hay bị hiểu lệch
Màu không phải bùa. Sơn một bức tường màu vàng không làm tiền vào nhà, sơn tường xanh không làm người khoẻ lên. Màu tác động thật lên con người qua ánh sáng, cảm giác nóng – mát, cảm giác rộng – hẹp; phần còn lại là biểu tượng văn hoá, mức tin tuỳ mỗi người.
Không cần mỗi phương sơn một màu. Áp bảng năm màu lên tường theo đúng phương sẽ cho ra một căn nhà loang lổ. Các trường phái nghiêm túc thường chỉ dùng màu theo phương ở mức điểm nhấn: một tấm thảm, một bình gốm, một bức tranh.
Trắng không chỉ là màu tang. Người Việt mặc đồ trắng khi để tang nên có tâm lý ngại nhà "trắng toát". Nhưng trong ngũ sắc, trắng là màu của Kim, của sự sạch và thu gọn; trần trắng, tường trắng ngà là lựa chọn bình thường.
Đen không đồng nghĩa với xui. Đen là màu của Thủy, của chiều sâu. Một khung cửa sổ đen, một chân đèn đen là chi tiết bình thường. Cái nên tránh là một căn phòng tối hoàn toàn vì thiếu sáng, không phải bản thân màu đen.
Màu mệnh cá nhân là chuyện khác. Bảng ngũ sắc theo phương là màu của không gian. Chuyện "người mệnh X hợp màu Y" là một tầng suy luận khác, dựa trên năm sinh; hai tầng hay bị trộn vào nhau khiến lời khuyên mâu thuẫn.
Dùng ngũ sắc trong nhà hôm nay cho vừa
Nếu bạn muốn đưa ngũ sắc vào nhà như một lớp ý nghĩa văn hoá mà không làm hỏng thẩm mỹ và công năng, thứ tự dưới đây thường cho kết quả dễ sống nhất:
- Chọn màu nền cho cả nhà trước, dựa trên ánh sáng và khí hậu: nhà nắng nóng nên nền sáng, mát; nhà thiếu sáng nên nền sáng, ấm. Màu nền thường chiếm phần lớn diện tích tường và trần.
- Xác định phương của từng phòng bằng la bàn đứng ở tâm nhà, ghi lại phòng nào nằm ở khu Đông, Nam, Tây, Bắc hay góc chéo.
- Với mỗi phòng, chọn một hoặc hai màu nhấn theo bảng ngũ sắc (màu bản vị hoặc màu tương sinh), đưa vào đồ rời: vải, gốm, tranh, cây.
- Kiểm lại bằng mắt vào ban ngày và buổi tối dưới đèn; màu nhấn nào làm phòng chói, nóng hay u tối thì bỏ, dù "đúng phương".
- Ghi chép lại để khi đổi đồ theo mùa, theo năm có điểm tựa, thay vì sơn lại tường.
Làm theo cách này, ngũ sắc trở thành một ngôn ngữ trang trí có chiều sâu văn hoá, chứ không phải một bảng luật bắt căn nhà phải chiều theo. Màu cho từng phòng cụ thể và cho bên ngoài nhà được bàn kỹ ở các bài khác trong chuyên mục.
Câu hỏi thường gặp
Ngũ sắc gồm những màu nào?
Ngũ sắc gồm năm màu gốc: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen. Chúng ứng với năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy và năm phương Đông, Nam, Trung tâm, Tây, Bắc. Các sắc khác như cam, tím, nâu, xám được phong thủy hiện đại xếp vào nhóm gần nhất theo quy ước.
Xanh dương thuộc hành Mộc hay hành Thủy?
Phần lớn sách phong thủy hiện đại xếp xanh dương, nhất là xanh đậm, vào Thủy và xanh lá vào Mộc. Một số sách xếp xanh dương nhạt vào Mộc vì chữ "thanh" trong Hán văn cổ chỉ chung các sắc xanh. Đây là khác biệt quy ước, bạn chọn theo một nguồn và dùng nhất quán.
Vì sao màu vàng được coi là màu của vua?
Màu vàng ứng với trung tâm và hành Thổ; trung tâm là vị trí của bậc trị vì trong quan niệm cổ. Nhiều triều đại ở Trung Hoa và Việt Nam vì thế dành sắc vàng cho nhà vua, thể hiện ở ngói lưu ly vàng, long bào. Đó là quy ước nghi lễ, không phải phép màu của màu sắc.
Nhà có cần đủ năm màu mới cân bằng không?
Không cần. Một số trường phái thích có đủ năm hành trong nhà, nhưng năm hành có thể hiện diện qua vật liệu, hình dáng, cây, nước, ánh sáng chứ không bắt buộc qua sơn. Nhiều căn nhà chỉ dùng hai ba màu vẫn hài hoà và dễ sống.
Cờ ngũ sắc ở hội làng có giống ngũ sắc phong thủy không?
Cùng một gốc. Cờ ngũ hành ở đình làng dùng năm màu theo năm phương, thường có ô vàng ở giữa, thể hiện ý trời đất đủ đầy. Trong lễ hội, đó là biểu tượng nghi lễ; trong nhà ở, phong thủy dùng cùng bảng màu ấy để phối màu theo phương.
Có nên sơn mỗi phòng một màu theo phương vị không?
Thường không nên sơn cả tường theo phương vị vì nhà dễ rời rạc và có phòng sẽ quá nóng hoặc quá tối. Cách dễ sống hơn là giữ một màu nền chung rồi đưa màu theo phương vào điểm nhấn nhỏ, đổi được khi cần.