Địa lý nhân tử tu tri là bộ sách hình thế đời Minh của hai anh em họ Từ (Từ Thiện Kế, Từ Thiện Thuật), nổi tiếng với rất nhiều hình vẽ minh hoạ thế núi, thế huyệt. Địa lý ngũ quyết, thường ghi của Triệu Cửu Phong đời Thanh, gói việc xem đất vào năm khâu: long, huyệt, sa, thủy, hướng. Hai bộ sách là cửa vào phổ thông nhất của phái Hình thế.
Nếu Hám long kinh là kinh điển cô đọng, thì hai bộ này là sách giáo khoa: chia nhỏ, có hình, có ví dụ, dễ theo. Bài giới thiệu ý nghĩa tên sách, cấu trúc năm khâu, cách phân loại huyệt, và những chỗ nên đọc như văn hoá chứ không như quy tắc chọn đất hôm nay. Nội dung chủ yếu bàn đất mộ, nên bài giữ giọng tôn trọng với tập quán của nhiều gia đình.
Nhân tử tu tri: vì sao "người làm con nên biết"
Tên sách Địa lý nhân tử tu tri có nghĩa là "điều người làm con nên biết về địa lý". Cái tên ấy gói cả một quan niệm xã hội: trong văn hoá Nho giáo, chôn cất cha mẹ chu đáo là phần quan trọng của chữ hiếu, và chọn đất đặt mộ là việc con cháu phải lo. Hai anh em họ Từ, theo lời tựa và các ghi chép phổ biến, soạn sách để người làm con tự hiểu nghề, tránh bị thầy địa lý lừa hoặc dẫn dắt sai.
Ý "tự hiểu để khỏi bị lừa" đáng chú ý, vì nó cho thấy ngay từ đời Minh, chuyện thầy địa lý lợi dụng lòng hiếu thảo để trục lợi đã phổ biến đến mức có người phải viết sách chống lại. Sách vì thế vừa dạy nghề vừa phê phán những phép bị coi là hoang đường, và đề cao việc quan sát thực địa.
Đọc hôm nay, tinh thần ấy vẫn hữu ích. Khi gia đình bạn cần lo việc mộ phần, hiểu đôi chút về cách người xưa nhìn đất giúp bạn trò chuyện với người tư vấn tỉnh táo hơn, biết hỏi lý do, và không vội tin những lời hù doạ.
Năm khâu trong Địa lý ngũ quyết
Địa lý ngũ quyết nổi tiếng vì gói việc xem đất thành năm khâu, mỗi khâu có một yêu cầu ngắn. Cách diễn đạt phổ biến là: long phải chân, huyệt phải đích, sa phải tú, thủy phải bão, hướng phải cát.
| Khâu | Yêu cầu theo sách | Ý nghĩa | Cách hiểu quan sát được |
|---|---|---|---|
| Long | Long chân (mạch thật) | Mạch núi có gốc, có đi, có dừng | Thế đất liền mạch, ổn định, không phải đất đắp hay đất trôi |
| Huyệt | Huyệt đích (đúng chỗ) | Chỗ khí tụ để đặt mộ hoặc nhà | Chỗ bằng phẳng vừa phải, khô ráo, kín gió trong thế đất |
| Sa | Sa tú (núi quanh đẹp) | Các núi, gò nhỏ bao quanh huyệt | Có che chắn hai bên, không có vách đá dữ chĩa vào |
| Thủy | Thủy bão (nước ôm) | Dòng nước uốn quanh, không đâm thẳng | Nước chảy êm, không xói lở, không ngập |
| Hướng | Hướng cát (hướng tốt) | Hướng mộ, hướng nhà theo lý khí | Phần quy ước của trường phái, mức tin tuỳ mỗi người |
Bốn khâu đầu có thể quan sát bằng mắt và đối chiếu với kiến thức địa hình. Khâu thứ năm là chỗ hình thế chạm vào lý khí, và là chỗ các thầy khác phái hay bất đồng nhất.
Bốn dạng huyệt: oa, kiềm, nhũ, đột
Oa (dạng tổ, lòng chảo). Chỗ đất lõm nhẹ như tổ chim, xung quanh hơi cao lên. Sách coi là dạng huyệt kín đáo; thực tế đây là chỗ kín gió nhưng phải xem kỹ thoát nước, kẻo thành chỗ đọng.
Kiềm (dạng gọng kìm). Hai nhánh đất chìa ra hai bên như hai càng, huyệt nằm giữa. Ý tương tự tứ linh thu nhỏ: hai bên che chắn, giữa mở.
Nhũ (dạng bầu vú). Một gò đất nhô ra mềm mại từ sườn, huyệt nằm trên gò. Chỗ này thường khô thoáng, nước thoát xuống hai bên.
Đột (dạng gò nổi). Một gò nhỏ nổi lên giữa chỗ bằng. Sách bàn dạng này ở đồng bằng nhiều, nơi chỉ cần cao hơn xung quanh một chút đã được coi là thế.
Đọc cho đúng mức. Bốn dạng là cách phân loại hình thái địa hình nhỏ, rất có ích để mô tả. Việc gán mỗi dạng với phúc hoạ cho con cháu là quan niệm của truyền thống, mức tin tuỳ mỗi gia đình.
Sa và thủy: hai khâu được bàn kỹ nhất
Trong năm khâu, sa và thủy là hai khâu được các sách hình thế bàn dài nhất. Sa là tên gọi chung cho mọi núi, gò, đồi nhỏ quanh chỗ đặt huyệt, kể cả núi án phía trước và núi triều ở xa hơn. Sách phân sa thành nhiều loại theo vị trí và hình dáng: sa chầu vào là tốt, sa quay lưng đi là kém, sa nhọn chĩa thẳng vào huyệt là dữ. Cách phân loại ấy về hình thức giống như mô tả bố cục một bức tranh phong cảnh, nơi mọi thứ hướng về trung tâm.
Thủy gồm sông, suối, khe, ao hồ, kể cả chỗ nước mưa tụ lại trước huyệt. Sách quan tâm nước đến từ đâu, đi qua trước mặt thế nào, và thoát đi ở đâu (thủy khẩu). Nước uốn quanh, chảy chậm, có chỗ đọng lại một chút trước mặt rồi mới đi thì được coi là tốt; nước đâm thẳng vào, chảy xiết hay xói mòn bờ thì bị coi là xấu. Đọc theo con mắt hôm nay, đây là những quan sát về dòng chảy và xói lở mà ai sống ven sông cũng hiểu.
Cả hai khâu đều có một tầng quan sát được và một tầng quan niệm. Tầng quan sát giúp mô tả cảnh quan chính xác; tầng quan niệm gắn hình dáng sa, dáng nước với phúc hoạ, mức tin tuỳ mỗi người.
Minh đường và án sơn theo sách hình thế
Hai bộ sách cũng dành nhiều trang cho minh đường, khoảng đất trống trước huyệt, và án sơn, núi thấp ngay phía trước như cái bàn kê trước mặt. Minh đường được mong là rộng vừa phải, bằng phẳng, sáng sủa, có nước tụ; quá hẹp thì bị coi là bức bách, quá rộng mênh mông thì bị coi là khí tản. Án sơn được mong là thấp, gần vừa phải, dáng tròn hoặc bằng, không cao chắn hết tầm nhìn.
Ngôn ngữ ấy được người sau mượn rất nhiều cho nhà ở: sân trước nhà, khoảng thoáng trước cửa được gọi là minh đường; toà nhà, hàng cây phía trước được gọi là án. Bạn có thể dùng hai khái niệm này để mô tả tầm nhìn và cảm giác trước mặt nhà một cách gọn gàng. Phần đánh giá tốt xấu theo kích thước, hình dáng là quan niệm của trường phái, mức tin tuỳ mỗi người.
Hình vẽ: điểm mạnh nhất của Địa lý nhân tử tu tri
Điều làm Địa lý nhân tử tu tri khác hẳn các sách trước là số lượng hình vẽ. Sách vẽ rất nhiều thế núi, thế huyệt, thế nước, có khi kèm tên những ngôi mộ được coi là mẫu mực của thời ấy. Với người học, hình vẽ giúp hiểu ngay những chữ mà đọc văn bản mãi không hình dung ra: thế nào là nước ôm, thế nào là sa chầu, thế nào là núi khách quá gần.
Hình vẽ cũng là chỗ dễ bị hiểu nhầm. Đó là sơ đồ cách điệu, không phải bản đồ địa hình có tỷ lệ. Một đường cong trên giấy có thể là một con sông lớn hay chỉ một con lạch. Người đọc không nên đem hình trong sách đặt chồng lên ảnh vệ tinh rồi kết luận.
Nhiều bản in về sau thêm, bớt, vẽ lại hình, nên hình trong các bản dịch khác nhau đáng kể. Nếu bạn quan tâm, hãy tìm bản ghi rõ xuất xứ hình vẽ, và đọc hình cùng lời bàn bên cạnh, vì lời bàn mới cho biết người soạn muốn nhấn vào điều gì.
Những gì còn dùng được khi gia đình lo việc mộ phần
Hai bộ sách bàn chủ yếu đất mộ. Ngày nay việc an táng phải theo quy hoạch nghĩa trang và quy định của địa phương, nhiều nơi khuyến khích hoả táng. Trong khuôn khổ đó, vài ý của sách vẫn giúp gia đình chọn vị trí trong nghĩa trang hoặc chăm sóc mộ:
- Chỗ đất khô ráo, cao hơn xung quanh một chút, không đọng nước mưa: đây là khâu huyệt theo nghĩa quan sát, giúp mộ bền.
- Không đặt sát mép taluy, bờ suối, chỗ có dấu hiệu sạt lở: tương ứng khâu long và thủy.
- Hai bên có hàng cây hay mộ khác che chắn vừa phải: gần với khâu sa, giúp mộ ít bị gió quật.
- Lối đi vào mộ thuận tiện cho người già, trẻ nhỏ khi thăm viếng: sách không nói, nhưng đây là nhu cầu thật của gia đình hôm nay.
- Hướng mộ theo phép riêng của gia đình hay dòng họ: phần này là tập quán, mức tin tuỳ mỗi người, và nên theo quy định chung của nghĩa trang.
Việc cải táng, sang cát, xây mộ có các tập quán riêng từng vùng và quy định vệ sinh, pháp lý riêng; các chủ đề ấy được bàn ở danh mục âm trạch và cải táng.
Vị trí của hai bộ sách trong dòng Hình thế
Nếu xếp các sách Hình thế theo lớp, Táng thư là lớp ý niệm, Hám long kinh và Nghi long kinh là lớp kinh điển, còn Địa lý nhân tử tu tri và Địa lý ngũ quyết là lớp sách giáo khoa. Lớp sau gom kiến thức của lớp trước, sắp lại theo trình tự dễ học, thêm hình và ví dụ, bỏ bớt những câu khó hiểu.
Chính vì vậy, người học phong thủy ở Việt Nam thường bắt đầu từ hai bộ này hơn là từ Hám long kinh. Nhiều sách Hình thế tiếng Việt biên soạn trong vài thập niên gần đây dựa vào khung năm khâu long, huyệt, sa, thủy, hướng. Khi gặp khung ấy, bạn có thể biết nó xuất phát từ đâu, và biết rằng bốn khâu đầu là quan sát địa hình, khâu cuối là lý khí, hai tầng có độ chắc chắn khác nhau.
Câu hỏi thường gặp
Địa lý nhân tử tu tri là sách gì?
Đây là bộ sách phong thủy Hình thế đời Minh của hai anh em họ Từ, có rất nhiều hình vẽ thế núi, thế huyệt, thế nước. Tên sách nghĩa là điều người làm con nên biết về địa lý, gắn với việc lo mộ phần cha mẹ trong quan niệm hiếu đạo.
Địa lý ngũ quyết gồm những gì?
Sách gói việc xem đất vào năm khâu: long (mạch đất), huyệt (chỗ đặt), sa (núi gò bao quanh), thủy (dòng nước), hướng (phương hướng). Mỗi khâu có một yêu cầu ngắn như long phải thật, nước phải ôm, hướng phải tốt.
Oa kiềm nhũ đột là gì?
Đây là bốn dạng huyệt trong sách Hình thế: oa là chỗ lõm như tổ, kiềm là chỗ có hai càng ôm hai bên, nhũ là gò nhô mềm từ sườn, đột là gò nổi giữa chỗ bằng. Đây là cách phân loại hình thái địa hình nhỏ quanh chỗ đặt mộ.
Hai bộ sách này có bàn về nhà ở không?
Trọng tâm là đất mộ, nhưng nguyên lý long, huyệt, sa, thủy cũng được người sau áp cho đất ở, nhất là làng xóm vùng đồi. Với nhà phố hôm nay, việc áp là suy diễn; ý còn hữu ích là chọn chỗ đất cao ráo, có che chắn và thoát nước tốt.
Có nên tự chọn đất mộ theo sách không?
Gia đình có thể tham khảo các ý về đất khô ráo, không sạt lở, có che chắn. Nhưng việc an táng phải theo quy hoạch nghĩa trang và quy định địa phương. Phần tin rằng đất mộ ảnh hưởng con cháu là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi gia đình, không nên vì thế mà chi tiền lớn theo lời hù doạ.
Triệu Cửu Phong là ai?
Triệu Cửu Phong là tên thường được ghi làm tác giả của Địa lý ngũ quyết và Dương trạch tam yếu, sống vào đời Thanh. Thông tin về thân thế ông không nhiều, phần lớn đến từ sách nghề, nên các chi tiết tiểu sử nên đọc dè dặt.