Phong-thuy.comPhong Thủy
Cổ thư phong thủy

Nội dung Táng thư: bố cục, các câu then chốt và cách hiểu khí, gió, nước

Táng thư ngắn mà được dẫn nhiều nhất trong phong thủy. Bài đọc kỹ từng câu then chốt: táng thừa sinh khí, tàng phong tụ thủy, tứ linh, năm loại núi không táng.

Low morning mist over rolling green hills and a slow curving river near Huế, a lone figure in conical hat walking along a dyke, seen from far away

Táng thư là văn bản ngắn bàn về chọn đất chôn cất, xoay quanh một ý: khí sinh ra muôn vật đi theo mạch đất, gặp gió thì tan, gặp nước thì dừng; chôn cất đúng chỗ là "nương theo sinh khí". Từ câu "khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ" mà có hai chữ phong thủy.

Bài này không kể lại chuyện Quách Phác hay bối cảnh tang ma đời Tấn, mà đọc kỹ chính văn bản: sách gồm những phần nào, các câu then chốt nói gì, nên hiểu chúng thế nào cho đúng mức, và vì sao một văn bản về mộ lại thành nền móng cho cả phong thủy nhà ở. Câu chữ dẫn theo âm Hán Việt quen dùng; các bản Táng thư có chỗ khác nhau, nên nghĩa nêu ở đây là nghĩa phổ biến.

Táng thư gồm những phần nào

Văn bản Táng thư lưu hành hôm nay khá ngắn, đọc bằng chữ Hán chỉ mất ít phút. Các bản truyền lại không hoàn toàn giống nhau. Bản thường được nhắc là bản đã qua san định, chia thành phần chính (nội thiên) và các phần phụ (ngoại thiên, tạp thiên), trong đó phần chính gom những câu được coi là cốt lõi, phần phụ là những đoạn bàn thêm hoặc được cho là người sau chen vào. Việc san định như vậy cho thấy ngay từ xưa người đọc đã biết văn bản bị pha trộn.

Về nội dung, có thể đọc Táng thư theo ba lớp. Lớp thứ nhất là nguyên lý: khí là gì, vì sao chôn cất phải nương theo khí, gió và nước tác động ra sao. Lớp thứ hai là hình thế: núi là thân của khí, đất tốt có hình dạng ra sao, bốn phía nên có gì. Lớp thứ ba là cấm kỵ: những loại núi, loại đất không nên táng. Ba lớp này về sau tách ra thành ba mảng lớn của nghề: lý luận khí, phái Hình thế, và các danh sách kiêng.

Điều đáng nhớ là Táng thư gần như không có la kinh, không có quẻ, không có công thức tính theo năm sinh. Những thứ đó đến muộn hơn. Đọc Táng thư, bạn thấy một phong thủy rất gần với việc nhìn địa hình bằng mắt.

Các câu then chốt và nghĩa phổ biến

Dưới đây là những câu được trích nhiều nhất. Phần "cách hiểu" là cách đọc phổ biến trong nghề và trong giới nghiên cứu, không phải bản dịch duy nhất.

Câu (âm Hán Việt)Nghĩa phổ biếnCách hiểu cho người hôm nay
Táng giả, thừa sinh khí dãChôn cất là nương theo sinh khíCâu mở định nghĩa việc táng: chọn chỗ đất "sống", không phải chỉ chọn chỗ trống
Khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉKhí cưỡi gió thì tan, gặp nước làm giới hạn thì dừngChỗ lộng gió khó giữ được gì, chỗ có nước bao quanh là chỗ dừng tụ
Cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi phong thủyNgười xưa gom khí cho khỏi tan, cho đi mà có chỗ dừng, nên gọi là phong thủyNguồn gốc tên gọi; ý "tàng phong tụ thủy" đi ra từ đây
Phong thủy chi pháp, đắc thủy vi thượng, tàng phong thứ chiPhép phong thủy, được nước là trên hết, che gió đứng thứ haiXếp thứ bậc: nước quan trọng hơn gió; về sau phái Hình thế rất coi trọng thủy
Tả Thanh long, hữu Bạch hổ, tiền Chu tước, hậu Huyền vũBốn phía có bốn linh vậtKhung bốn phía: hai bên che chắn, trước mở, sau tựa

Đọc liền năm câu, bạn thấy Táng thư lập luận khá chặt: định nghĩa việc táng, giải thích cơ chế khí, đặt tên phép, xếp thứ bậc, rồi mô tả hình thế lý tưởng.

Khí, gió và nước: đọc cho đúng mức

Chữ khí trong Táng thư là khái niệm triết học – vũ trụ quan của Trung Hoa cổ, chỉ cái sinh động làm nên muôn vật. Nó không phải một loại năng lượng đo được bằng máy, và cũng không đồng nhất với không khí. Khi văn bản nói khí "đi trong đất", đó là cách người xưa diễn đạt rằng đất có chỗ sống chỗ chết, chỗ hợp chỗ không hợp để đặt người đã khuất.

Gió và nước trong câu then chốt lại rất cụ thể. Chỗ đất trơ trọi giữa gió lộng thì đất khô cằn, cỏ cây khó mọc, mộ dễ xói. Chỗ có nước bao quanh hoặc chảy uốn trước mặt thì cây cối tươi, đất có độ ẩm, cảnh quan khép lại thành một khoảng yên. Người đọc hôm nay có thể hiểu câu "gặp gió thì tan, gặp nước thì dừng" như một quan sát về vi khí hậu và cảnh quan, đặt trong ngôn ngữ của khí.

Cần giữ hai tầng tách bạch. Tầng quan sát môi trường thì kiểm được: kín gió hay lộng gió, có nước hay không, đất khô hay úng. Tầng niềm tin rằng đặt mộ đúng chỗ sẽ ảnh hưởng con cháu là quan niệm của truyền thống, mức tin tuỳ mỗi người. Táng thư trình bày cả hai trong cùng một văn bản, và cách đọc tỉnh táo là nhận ra mình đang ở tầng nào.

Tứ linh và hình thế lý tưởng

Huyền vũ ở sau, "thùy đầu". Núi phía sau nên cúi xuống, thoai thoải như đầu rùa hạ, nghĩa là thế tựa vững mà không đè nặng. Một sườn dốc dựng đứng sát lưng thì không phải tựa mà là ép.

Chu tước ở trước, "tường vũ". Phía trước như chim múa, nghĩa là mở ra, có khoảng thoáng và có độ sống động. Đây là gốc của ý minh đường: trước mặt cần một khoảng trống sáng sủa.

Thanh long bên trái, "uyển diên". Dải đất bên trái uốn lượn mềm mại, ôm vào. Trái và phải tính theo người đứng ở chỗ đặt mộ nhìn ra phía trước.

Bạch hổ bên phải, "thuần phục". Dải đất bên phải nằm thấp, hiền, không chồm lên. Ý chung là hai bên che chắn mà không lấn át, tạo thế một cái ghế bành có tựa lưng và tay vịn.

Cách hiểu hôm nay. Bỏ đi hình ảnh linh vật, bốn câu này mô tả một vị trí tựa cao phía sau, hai bên có che chắn, phía trước mở ra. Kiến trúc cảnh quan nhiều nơi cũng ưa thế đất như vậy vì kín gió, có tầm nhìn và cảm giác an toàn. Đây là quan niệm của Táng thư; việc áp vào nhà phố hay căn hộ là suy diễn của người sau.

Năm loại núi không táng và những lời kiêng khác

Táng thư có một danh sách thường gọi là "ngũ bất táng", năm loại núi không nên đặt mộ. Mỗi loại có lý do quan sát khá rõ:

  • Núi trọc (đồng sơn): không cây cỏ, theo sách là chỗ khí không sinh; thực tế là đất cằn, xói mòn mạnh.
  • Núi đứt (đoạn sơn): mạch núi bị cắt ngang, theo sách là khí bị đứt; thực tế thường là chỗ sạt lở, đường mòn, khe suối cắt qua.
  • Núi đá (thạch sơn): toàn đá, khó đào, không giữ đất; theo sách là khí không hoà.
  • Núi đi qua (quá sơn): chỗ mạch núi chỉ lướt qua mà không dừng, theo sách là khí không tụ.
  • Núi đơn độc (độc sơn): đứng trơ một mình, không có núi che hai bên, theo sách là không có tứ linh; thực tế là chỗ đón gió từ mọi phía.

Đọc theo nghĩa đen, danh sách này phần lớn là cảnh báo về đất xấu cho việc chôn cất: cằn, dễ lở, khó đào, lộng gió. Phần "khí không tụ" là cách diễn đạt của truyền thống. Ngày nay việc an táng còn phải theo quy định về đất nghĩa trang của địa phương, nên danh sách này chủ yếu có giá trị văn hoá và để hiểu cảnh quan mộ cổ.

Nhìn bóng dáng Táng thư trong cảnh quan lăng mộ cổ

Muốn thấy các câu của Táng thư hiện ra ngoài đời, bạn có thể quan sát cảnh quan lăng mộ cổ, chẳng hạn các lăng vua Nguyễn ở Huế. Nhiều lăng được đặt giữa vùng đồi, phía sau có thế cao, phía trước mở ra khoảng thoáng và có hồ nước, như hồ Trừng Minh ở lăng Minh Mạng hay hồ Lưu Khiêm ở lăng Tự Đức. Hai bên thường có đồi thấp hoặc hàng cây che chắn. Đó đúng là mô hình tựa sau, che hai bên, mở phía trước và lấy nước làm trọng.

Cần nói cho thận trọng: không có nghĩa người dựng lăng đã cầm Táng thư mà làm theo từng câu. Truyền thống chọn đất của triều đình kết hợp nhiều sách, nhiều thầy, và cả những tính toán về đường đi, đất đai, thẩm mỹ. Nhưng khi đứng ở một lăng cổ, nhìn núi phía sau, nước phía trước, bạn sẽ hiểu vì sao người xưa nói "đắc thủy vi thượng" và vì sao hình ảnh tứ linh bền đến thế. Đây là cách học cổ thư bằng mắt: đọc câu chữ rồi ra hiện trường, so xem cảnh nào khớp, cảnh nào không, và ghi nhận những chỗ người xưa đã cải tạo đất như đào hồ, đắp đồi để tạo thế.

Vì sao một sách về mộ lại thành nền của phong thủy nhà ở

Táng thư không bàn về nhà. Nhưng vì nó là văn bản sớm định nghĩa phong thủy và đưa ra khung tứ linh, các sách nhà ở về sau mượn gần như nguyên bộ từ vựng: nhà cũng cần tựa sau, che hai bên, mở phía trước, có nước và đường như dòng khí dẫn vào. Người ta chuyển một mô hình chọn đất mộ trên đồi thành mô hình chọn đất ở đồng bằng, rồi tiếp tục chuyển vào phố thị.

Việc mượn ấy có chỗ hợp lý: một ngôi nhà tựa lưng vào khối đặc, hai bên có nhà bên cạnh che, mặt trước nhìn ra khoảng sân hay đường rộng thì thường kín đáo, sáng và dễ đi lại. Nhưng nó cũng sinh ra những suy diễn khiên cưỡng, chẳng hạn coi toà nhà bên trái cao hơn bên phải là "rồng thua hổ" rồi phán chuyện trong nhà. Khi gặp lối nói ấy, bạn có thể nhớ rằng Táng thư nói về địa hình tự nhiên quanh một ngôi mộ, còn câu phán kia là suy diễn của người áp dụng; đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người.

Biết điều này cũng giúp bạn hiểu vì sao các cuốn sách về nhà ở như Hoàng đế trạch kinh hay Dương trạch tam yếu phải tự xây khung riêng. Nhà có cửa, có bếp, có phòng, có người sống hằng ngày, nên câu hỏi của chúng khác câu hỏi của Táng thư.

Câu hỏi thường gặp

Táng thư dài bao nhiêu?

Văn bản lưu hành rất ngắn, chỉ vài nghìn chữ Hán, đọc liền mất ít phút. Bản dịch tiếng Việt thường dài hơn nhiều vì có chú giải. Do các bản truyền lại khác nhau, số chữ và thứ tự đoạn không hoàn toàn giống nhau giữa các bản in.

Táng thư và Táng kinh có phải một sách không?

Thường được coi là một, hai tên gọi cho cùng văn bản. Chữ kinh được thêm vào để tôn sách lên hàng kinh điển. Khi đọc bản dịch, bạn nên xem người dịch dựa vào bản nào, vì có bản đầy đủ phần phụ, có bản chỉ giữ phần chính.

Câu đắc thủy vi thượng nghĩa là gì?

Câu này nói trong phép phong thủy, có được nước là quan trọng nhất, che được gió đứng sau. Về mặt quan sát, nước gắn với đất màu mỡ, cây tươi, đời sống thuận lợi. Về sau phái Hình thế phát triển rất nhiều lý thuyết về dòng nước dựa trên ý này.

Tứ linh trong Táng thư áp vào nhà phố được không?

Người sau có áp, coi nhà hai bên là Thanh long và Bạch hổ, khoảng trước nhà là minh đường. Đây là suy diễn, không phải lời Táng thư. Ý hữu ích còn lại là nhà nên có chỗ tựa phía sau, hai bên kín và phía trước thoáng, sáng.

Có nên chọn đất mộ theo Táng thư không?

Bạn có thể tham khảo các ý về đất khô ráo, không sạt lở, không úng, có cảnh quan yên tĩnh. Nhưng việc an táng hiện nay phải theo quy định về nghĩa trang và đất đai của địa phương. Phần niềm tin về ảnh hưởng đến con cháu là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi gia đình.

Đọc Táng thư bản dịch nào cho dễ?

Nên chọn bản có in nguyên văn chữ Hán song song, có phiên âm Hán Việt và chú thích từng thuật ngữ. Đọc chậm từng câu, đối chiếu với một hai bản khác khi gặp chỗ khó. Tránh bản chỉ có lời diễn giải mà không có câu gốc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183