Kiến trừ thập nhị trực là vòng mười hai chữ Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế, luân phiên trực mỗi ngày. Với việc nhà cửa, sách lịch phổ thông thường coi Thành, Khai, Định, Chấp là những trực thuận cho khởi công, xây dựng; Thành và Khai thuận cho nhập trạch; Phá là trực bị tránh nhiều nhất, trừ khi việc cần làm chính là phá dỡ. Trực Kiến được tính từ ngày có chi trùng với chi của tháng theo tiết khí.
Phần giải thích chung về mười hai trực đã có ở nhiều nơi. Bài này đi hẹp vào việc làm nhà: từng giai đoạn từ phá nhà cũ, động thổ, đổ móng, cất nóc tới dọn vào ở, sách lịch hay gợi ý trực nào và vì sao; kèm một chi tiết kỹ thuật ít người để ý là hiện tượng hai ngày liền cùng một trực ở ngày đổi tiết. Mọi gợi ý tốt xấu là quan niệm của truyền thống lịch pháp, mức tin tuỳ mỗi người.
Vòng mười hai trực vận hành thế nào
Quy tắc gốc rất gọn: trong mỗi tháng tiết, ngày nào có địa chi trùng với địa chi của tháng thì ngày đó là trực Kiến. Tháng Dần (từ Lập xuân đến trước Kinh trập) thì ngày Dần là Kiến, ngày Mão là Trừ, ngày Thìn là Mãn, cứ thế đến ngày Sửu là Bế. Sang tháng Mão thì ngày Mão là Kiến. Vì chi của ngày chạy liên tục mười hai ngày một vòng, nên trong một tháng mỗi trực xuất hiện hai đến ba lần.
Tên các trực mang nghĩa khá trực quan. Kiến là dựng lên, Trừ là dọn bỏ, Mãn là đầy, Bình là phẳng, Định là yên, Chấp là giữ, Phá là vỡ, Nguy là nguy hiểm, Thành là nên việc, Thu là thu về, Khai là mở, Bế là đóng. Từ nghĩa của chữ, người xưa gán việc hợp với từng trực: ngày Khai hợp mở cửa hàng, ngày Bế hợp lấp hố, ngày Thu hợp thu nợ.
Một chi tiết đáng chú ý: trực Phá luôn rơi vào ngày có chi đối xung với chi của tháng (cách nhau sáu vị). Vì vậy ngày Phá chính là ngày "Nguyệt phá" trong hệ thần sát, và đó là lý do sách lịch coi nó nặng hơn các trực xấu khác.
Vì sao có hai ngày liền nhau cùng một trực
Nếu để ý lịch kỹ, bạn sẽ thấy cứ khoảng một tháng lại có một lần hai ngày liên tiếp mang cùng một trực, chẳng hạn hai ngày Mãn liền nhau. Đây không phải lỗi in. Hiện tượng này gọi là trùng trực và xảy ra đúng vào ngày bắt đầu một tiết lệnh: Lập xuân, Kinh trập, Thanh minh, Lập hạ, Mang chủng, Tiểu thử, Lập thu, Bạch lộ, Hàn lộ, Lập đông, Đại tuyết, Tiểu hàn.
Lý do nằm ở phép tính. Hôm trước ngày đổi tiết, tháng còn mang chi cũ; hôm đổi tiết, tháng sang chi mới, tăng một vị. Chi của ngày cũng tăng một vị. Hai thứ cùng tăng nên khoảng cách giữa chúng giữ nguyên, và trực của hôm sau trùng với trực của hôm trước. Nhờ cái lặp này mà trực Kiến luôn khớp lại với chi tháng mới.
Biết điều này có ích thực tế. Khi một ứng dụng hay một cuốn lịch không có ngày trùng trực, rất có thể nó đang tính tháng theo mùng Một âm lịch chứ không theo tiết. Những ngày sát ranh giới tiết vì thế dễ bị ghi sai trực, và cũng là những ngày hai nguồn hay báo khác nhau nhất. Nếu ngày định làm việc lớn rơi vào khoảng ấy, nên kiểm lại bằng một nguồn tính theo tiết.
Mười hai trực và việc nhà cửa theo sách lịch phổ thông
Bảng dưới tổng hợp cách các lịch vạn sự phổ thông hay ghi. Các bản lịch không hoàn toàn thống nhất; bảng chỉ để hiểu logic chung, không phải bản chuẩn duy nhất.
| Trực | Nghĩa chữ | Hay được ghi hợp | Hay được ghi kỵ |
|---|---|---|---|
| Kiến | Dựng | Xuất hành, cầu phúc | Động thổ, đào đất |
| Trừ | Dọn bỏ | Dọn dẹp, tẩy rửa, chữa bệnh | Cưới hỏi, khai trương |
| Mãn | Đầy | Cúng tế, cầu tài, nhập kho | Nhậm chức, kiện tụng |
| Bình | Phẳng | San nền, sửa đường, trát tường | Việc lớn cần khởi sắc |
| Định | Yên | Cưới hỏi, ký kết, khởi công | Kiện tụng, đi xa |
| Chấp | Giữ | Xây dựng, tu sửa, đắp nền | Dời nhà, khai trương, xuất tiền |
| Phá | Vỡ | Phá dỡ nhà cũ, đập tường hỏng | Hầu hết việc khởi sự |
| Nguy | Nguy hiểm | Cúng tế | Leo cao, lợp mái, đi đường thuỷ |
| Thành | Nên việc | Khởi công, nhập trạch, khai trương, cưới | Kiện tụng |
| Thu | Thu về | Thu nợ, nhập kho, mua sắm | Khai trương, an táng |
| Khai | Mở | Động thổ, khai trương, lắp cửa, nhập học | An táng |
| Bế | Đóng | Lấp hố, đắp đê, xây tường bao | Khai trương, mở cửa, nhậm chức |
Một số sách còn chia mười hai trực thành hai nhóm: Trừ, Nguy, Định, Chấp, Thành, Khai là "hoàng đạo" của vòng trực; Kiến, Mãn, Bình, Thu, Phá, Bế là "hắc đạo". Đây là cách xếp riêng của vòng trực, không trùng với vòng mười hai vị thần Thanh Long, Minh Đường.
Có trực xấu mà vẫn hợp một việc cụ thể, như Phá hợp phá dỡ, Bế hợp lấp hố. Đó là cái hay của hệ này: nó xếp việc theo nghĩa của chữ, không phán một ngày xấu toàn phần.
Áp mười hai trực vào từng giai đoạn làm nhà
Nếu gia đình muốn dùng vòng trực để chọn ngày cho cả quá trình, có thể tham khảo trình tự dưới đây. Đây là cách sắp xếp theo quan niệm của sách lịch, ghép với nghĩa của chữ, không phải quy định bắt buộc.
- Phá dỡ nhà cũ: nhiều người chọn đúng ngày Phá, vì việc cần làm là phá. Cũng có nhà tránh hẳn, chọn ngày Trừ (dọn bỏ). Về thực tế, điều quan trọng là cắt điện nước, che chắn bụi và báo hàng xóm.
- San nền, dọn mặt bằng: ngày Bình hợp nghĩa chữ (làm phẳng).
- Động thổ: lịch hay gợi ý Khai, Thành, Định. Nhiều lịch ghi kỵ động thổ ngày Kiến.
- Đổ móng, xây tường: Chấp (giữ chắc) và Định (yên) thường được chọn.
- Cất nóc, đổ mái: Thành được ưa chuộng; nhiều lịch ghi kỵ việc leo cao ngày Nguy. Về an toàn, công việc trên cao cần thời tiết khô, có lan can tạm và dây an toàn.
- Lắp cửa chính: Khai (mở) là lựa chọn quen thuộc.
- Nhập trạch: Thành và Khai được dùng nhiều nhất; một số lịch thêm Mãn (đầy đủ).
Ví dụ giả định: một gia đình ở Phú Thọ làm nhà mái bằng trong mùa khô. Họ chọn ngày Khai cho lễ động thổ, ngày Thành cho lễ đổ mái, rồi để nhà thầu tự sắp các phần việc ở giữa theo tiến độ. Cách này giữ được tục chọn ngày ở hai mốc lớn mà không làm chậm công trình.
Tự tra trực của một ngày bằng tay
Không cần ứng dụng, bạn có thể tự tính trực của bất kỳ ngày nào nếu biết hai thông tin: ngày đó thuộc tháng tiết nào, và địa chi của ngày là gì. Cả hai đều có trên hầu hết lịch treo tường.
- Xác định tháng tiết: xem ngày cần tra nằm sau tiết lệnh nào gần nhất (Lập xuân, Kinh trập, Thanh minh…). Sau Lập xuân là tháng Dần, sau Kinh trập là tháng Mão, sau Thanh minh là tháng Thìn, và cứ thế đến sau Tiểu hàn là tháng Sửu.
- Lấy địa chi của ngày: trên lịch thường ghi dạng "ngày Giáp Ngọ", chỉ cần chữ sau là Ngọ.
- Đặt trực Kiến vào chi của tháng, rồi đếm xuôi theo thứ tự Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi cho tới chi của ngày, mỗi bước đổi sang trực kế tiếp.
- Đối chiếu kết quả với lịch. Nếu khớp, bạn đã nắm được quy tắc; nếu lệch đúng một bậc và ngày nằm sát ngày đổi tiết, nguồn kia có thể đang tính tháng theo mùng Một.
Ví dụ giả định: một ngày Ngọ nằm sau Lập xuân, tức tháng Dần. Kiến ở Dần, Trừ ở Mão, Mãn ở Thìn, Bình ở Tỵ, Định ở Ngọ. Vậy ngày đó là trực Định. Nếu cũng ngày Ngọ ấy nằm sau Kinh trập (tháng Mão) thì Kiến ở Mão, đếm tới Ngọ là trực Bình.
Phép đếm này cũng cho thấy vì sao trực Phá luôn cách trực Kiến sáu bậc: chi của ngày Phá đối xung với chi của tháng, như Thân với Dần, Dậu với Mão. Thuộc được điều này là nhìn chi tháng đã biết ngay ngày nào là ngày Phá.
Khi trực tốt mà các lớp khác lại xấu
Trực chỉ là một lớp. Ngày Thành có thể rơi vào ngày xung tuổi gia chủ, hoặc ngày Khai lại là ngày hắc đạo. Khi các lớp đá nhau, người làm nghề theo lối thông thư thường xét theo mức nặng nhẹ: ngày Phá (trùng Nguyệt phá) và ngày xung tuổi bị coi là nặng; hắc đạo hay sao xấu nhỏ được coi là nhẹ, có thể bỏ qua nếu ngày có nhiều điểm tốt khác.
Với người không theo nghề, nguyên tắc dễ dùng là: lấy trực làm một bộ lọc thô theo nghĩa của việc. Muốn khởi công thì tránh Phá, Kiến; muốn dọn vào thì ưu tiên Thành, Khai. Phần còn lại cân bằng điều kiện thực tế. Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người; không có trực nào làm thay đổi chất lượng móng hay độ bền của mái.
Cũng nên tách bạch phần tục lệ với phần kỹ thuật. Chọn trực là chọn ngày làm lễ, ngày mở đầu. Còn các công đoạn như đổ móng, đổ mái phụ thuộc thời tiết, cường độ bê tông, lịch máy bơm; kỹ sư không thể dời bê tông theo trực. Nhiều gia đình giữ cả hai bằng cách làm lễ đúng ngày đã chọn, còn thi công theo tiến độ kỹ thuật.
Một điều nữa nên nhớ: vì trực Kiến bám theo tháng tiết, một ngày cụ thể năm nay là Thành thì năm sau cùng ngày dương lịch đó gần như chắc chắn là trực khác. Không có "ngày Thành cố định" để ghi nhớ; mỗi lần chọn phải tra lại.
Câu hỏi thường gặp
Trực trong lịch là gì?
Trực là tên gọi ngắn của vòng Kiến trừ thập nhị trực, gồm mười hai chữ Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế luân phiên theo ngày. Mỗi trực gắn với một nhóm việc nên làm và kiêng làm theo quan niệm của sách lịch.
Trực Phá có phải ngày xấu nhất không?
Trong vòng trực, Phá thường bị coi là nặng nhất vì nó trùng ngày Nguyệt phá, tức ngày có chi xung với chi của tháng. Tuy vậy sách lịch vẫn ghi Phá hợp cho việc phá dỡ. Đây là quan niệm, không phải quy tắc kỹ thuật nào.
Vì sao năm nay và năm ngoái cùng ngày dương lịch mà trực khác nhau?
Trực phụ thuộc chi của ngày và chi của tháng tiết. Chi của ngày chạy theo vòng mười hai ngày liên tục, không khớp với năm dương lịch 365 hoặc 366 ngày, nên cùng ngày dương lịch mỗi năm rơi vào chi khác và trực khác.
Có nên chọn ngày Thành cho mọi việc không?
Thành được coi là trực thuận cho nhiều việc, nhưng sách lịch vẫn ghi kỵ kiện tụng. Hơn nữa, ngày Thành có thể gặp các lớp xấu khác như xung tuổi. Dùng Thành như một điểm cộng, không phải tấm vé đảm bảo.
Ứng dụng lịch không có ngày trùng trực thì sao?
Có thể ứng dụng đang tính tháng theo mùng Một âm lịch. Khi đó các ngày giữa mùng Một và ngày đổi tiết bị ghi sai trực. Nếu ngày bạn định chọn nằm trong khoảng ấy, nên đối chiếu với một nguồn tính theo tiết khí.
Nhà chung cư có cần xem trực khi nhập trạch không?
Không bắt buộc. Nếu gia đình muốn giữ tục, có thể chọn ngày Thành hoặc Khai không xung tuổi người chủ. Với chung cư, lịch thang máy, giờ ban quản lý cho chuyển đồ và thời tiết thường là ràng buộc lớn hơn.