Theo quy ước phổ biến của phong thủy nhà ở, Đông và Đông Nam thuộc Mộc, Nam thuộc Hỏa, Tây Nam và Đông Bắc thuộc Thổ, Tây và Tây Bắc thuộc Kim, Bắc thuộc Thủy. Cách gán này đi theo sơ đồ Hậu thiên bát quái và có gốc sâu hơn ở lối nghĩ ghép phương hướng với mùa trong năm và với đường đi của mặt trời trong ngày.
Bài này không nhắc lại từng quẻ (phần đó thuộc bài bát quái) mà trả lời câu hỏi "vì sao": vì sao phương Đông gắn với cây cối, phương Tây gắn với kim loại, và Thổ chiếm hai hướng chéo. Sau đó bài đặt quy ước ấy cạnh nắng gió thật của Việt Nam, nơi cùng một hướng mà ba miền có thể khác hẳn nhau, và gợi ý cách dùng hành của hướng để phối màu, vật liệu mà không bị trói tay. Đây là quy ước của các trường phái, mức tin tuỳ mỗi người.
Tám phương, ngũ hành, mùa ứng và nắng gió thật
Ba cột đầu là quy ước; cột cuối là điều bạn có thể kiểm ngay tại nhà mình ở phần lớn các vùng của Việt Nam.
| Hướng | Ngũ hành | Mùa, thời điểm ứng với | Nắng gió thật thường gặp |
|---|---|---|---|
| Bắc | Thủy | Mùa đông, nửa đêm | Ít nắng trực tiếp; mùa đông miền Bắc đón gió lạnh |
| Đông Bắc | Thổ | Giao giữa đông và xuân | Nắng sáng nhẹ; gió mùa Đông Bắc mùa lạnh |
| Đông | Mộc | Mùa xuân, sáng sớm | Nắng buổi sáng, dịu, hợp phòng ngủ và bếp |
| Đông Nam | Mộc | Cuối xuân | Đón gió mát mùa hè ở nhiều vùng ven biển |
| Nam | Hỏa | Mùa hạ, giữa trưa | Mặt trời đi cao, dễ che bằng mái hiên; gió nồm mùa hè |
| Tây Nam | Thổ | Giao giữa hạ và thu | Nắng chiều gắt; ở Bắc Trung Bộ là hướng của gió Lào |
| Tây | Kim | Mùa thu, chiều tối | Nắng chiều gắt nhất, mặt trời đi thấp khó che |
| Tây Bắc | Kim | Cuối thu | Nắng chiều mùa hè; gió lạnh mùa đông ở miền Bắc |
Đặt hai cột giữa và cuối cạnh nhau sẽ thấy quy ước có chỗ khớp với cảm nhận (phương Nam nắng, phương Bắc lạnh) và có chỗ không khớp (phương Tây "Kim", thu, mát trong quy ước nhưng lại là hướng nóng nhất trong thực tế nhà ở Việt Nam). Chỗ không khớp chính là chỗ cần tỉnh táo.
Vì sao Đông là Mộc, Nam là Hỏa: lối nghĩ theo mùa và mặt trời
Cách giải thích phổ biến nhất gắn hướng với mùa trong năm và với một ngày. Mặt trời mọc ở phương Đông như mùa xuân bắt đầu, cây cối nảy mầm, nên Đông là Mộc. Giữa trưa mặt trời ở phương Nam (với người ở Bắc bán cầu), như mùa hạ nóng nhất, nên Nam là Hỏa. Mặt trời lặn ở phương Tây như mùa thu thu hoạch, mọi thứ thu lại, rắn chắc, nên Tây là Kim. Nửa đêm và mùa đông ứng với phương Bắc, lạnh và ẩm, nên Bắc là Thủy.
Thổ không có một mùa riêng hoàn chỉnh. Có hai cách hiểu: Thổ ở trung tâm, làm nền cho bốn hành kia; hoặc Thổ nằm ở các khoảng chuyển mùa. Trên bản đồ tám hướng, cách hiểu thứ hai thể hiện qua việc Đông Bắc và Tây Nam, hai hướng nằm ở chỗ chuyển giữa đông sang xuân và giữa hạ sang thu, mang hành Thổ; còn giữa nhà mang Thổ theo cách hiểu thứ nhất.
Lối nghĩ này hình thành ở lưu vực Hoàng Hà, nơi gió lạnh mùa đông thổi từ phương Bắc và nắng ấm đến từ phương Nam. Việt Nam cùng ở Bắc bán cầu nên hướng mặt trời tương tự, nhưng khí hậu nhiệt đới gió mùa khiến ý nghĩa thực tế của từng hướng khác đi: phương Nam ở nhiều vùng là hướng đón gió mát hơn là hướng sưởi ấm. Với người ở Nam bán cầu, có tranh luận về việc có nên đảo trục Bắc – Nam hay không; các trường phái trả lời khác nhau.
Cùng một hướng, ba miền khác nhau
Quy ước ngũ hành của hướng là một, nhưng nắng gió thật thì thay đổi theo vùng. Ở Bắc Bộ, mùa đông có gió mùa Đông Bắc lạnh và khô, cuối đông đầu xuân lại có những đợt nồm ẩm; nhà mở cửa lớn về phía Bắc và Đông Bắc cần tính chuyện chắn gió lạnh, còn nhà hướng Nam được ưa vì mùa hè đón gió nồm, mùa đông đón nắng xiên.
Ở Bắc Trung Bộ, nhất là vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, mùa hè có gió Tây Nam khô nóng mà người dân quen gọi là gió Lào. Theo quy ước, phương Tây Nam thuộc Thổ, phương Tây thuộc Kim, nghe chẳng có gì nóng; nhưng với nhà ở đây, mặt Tây và Tây Nam là mặt cần che chắn kỹ nhất, tường dày, lam che, cây xanh. Ở dải ven biển Trung Bộ, gió và bão từ phía biển lại là yếu tố phải tính khi chọn hướng mở cửa lớn.
Ở Nam Bộ, khí hậu chia mùa mưa và mùa khô; mùa mưa có gió mùa Tây Nam mang mưa, mùa khô gió chủ yếu thổi từ phía Đông. Nắng chiều phía Tây vẫn là thứ nóng nhất quanh năm. Những khác biệt này cho thấy vì sao một lời khuyên "hướng X tốt vì thuộc hành Y" cần được đặt cạnh câu hỏi: nhà bạn ở vùng nào, và hướng đó mang lại nắng gió gì ở đó.
Dùng bản đồ hướng – hành cho đúng mức
Bản đồ tám hướng là một công cụ gọn, nhưng dễ bị dùng quá đà. Vài nguyên tắc giúp giữ nó ở đúng chỗ:
- Đo hướng cho chính xác trước khi gán hành; đứng sát cột thép hay đồ điện, kim la bàn có thể lệch đủ để gán sai cả một phương.
- Ưu tiên khí hậu thật của hướng: phòng hướng Tây cần chống nắng chiều bất kể nó thuộc Kim; phòng hướng Bắc ở miền Bắc cần chắn gió đông.
- Dùng hành của hướng như gợi ý phối màu, vật liệu cho góc đó, không như luật bắt buộc. Một góc Nam sơn màu xanh dương nhạt vẫn là góc đẹp nếu ánh sáng hợp.
- Không trộn hành của hướng với mệnh nạp âm của người ở. Hai hệ khác nhau, đặt vào một phép so dễ cho kết luận rối.
- Nhớ rằng mỗi trường phái chồng thêm lớp riêng lên bản đồ này: Bát trạch chia tám hướng theo người, Huyền không cho sao bay vào từng phương mỗi năm. Bản đồ hướng – hành chỉ là tầng nền.
Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người. Phần chắc chắn có ích là bản đồ này buộc bạn nhìn nhà theo tám phía, và chính việc nhìn ấy giúp nhận ra phía nào nắng gắt, phía nào gió lùa, phía nào cần sửa.
Một thói quen nhỏ giúp ích nhiều: mỗi khi gặp lời khuyên dựa trên hành của hướng, hãy viết ra cả hai vế, vế quy ước ("góc này thuộc Kim nên…") và vế thực tế ("góc này nắng chiều nên…"), rồi xem hai vế có cùng chiều không. Phần lớn lời khuyên hợp lý sẽ có cả hai vế cùng chiều.
Gợi ý phối màu, vật liệu theo hành của từng phương
Nếu muốn dùng hành của hướng để chọn màu, vật liệu cho các góc nhà, bảng dưới đưa gợi ý theo quy ước kèm điều thực tế nên cân cùng lúc.
| Phương | Hành | Gợi ý theo quy ước | Điều thực tế nên cân |
|---|---|---|---|
| Đông, Đông Nam | Mộc | Cây xanh, đồ gỗ, màu xanh lá; thêm Thủy (xanh đậm) là tương sinh | Nắng sáng tốt cho cây; hợp đặt chậu cây thật |
| Nam | Hỏa | Màu ấm, đèn, chút gỗ (Mộc sinh Hỏa) | Nắng trưa nhiều; tránh màu quá nóng nếu phòng đã nóng |
| Tây Nam, Đông Bắc | Thổ | Gốm, đá, màu be, nâu đất; chút màu ấm (Hỏa sinh Thổ) | Tây Nam nắng chiều, cần rèm, lam; Đông Bắc ở miền Bắc cần chắn gió lạnh |
| Tây, Tây Bắc | Kim | Kim loại, màu trắng, xám; chút gốm đất (Thổ sinh Kim) | Nắng chiều gắt nhất; màu sáng giúp phản bớt nhiệt |
| Bắc | Thủy | Màu xanh đậm, kính, đường cong; chút kim loại (Kim sinh Thủy) | Ít nắng; màu quá tối làm phòng càng lạnh và tối |
Cột cuối là cột nên đọc trước. Khi gợi ý theo quy ước đi ngược điều kiện thật, chẳng hạn góc Bắc vốn tối mà lại được gợi ý màu xanh đậm, hãy dùng màu đó ở một chi tiết nhỏ như gối, bình gốm, giữ nền tường sáng.
Ví dụ giả định: gán hành cho một căn nhà ống
Ví dụ giả định: một nhà ống ở Huế, mặt tiền quay hướng Đông Nam, dài hai mươi mét, rộng bốn mét. Phía trước nhà thuộc Đông Nam (Mộc), phía cuối nhà thuộc Tây Bắc (Kim); bức tường dọc bên trái khi đứng nhìn ra cửa quay về Đông Bắc (Thổ), bức tường bên phải quay về Tây Nam (Thổ).
Từ bản đồ này, một người theo ngũ hành có thể gợi ý: mặt tiền nhiều cây, đồ gỗ; cuối nhà đặt đồ kim loại như tủ lạnh, máy giặt; tường hai bên dùng gốm, màu đất. Đối chiếu khí hậu: mặt tiền hướng Đông Nam ở Huế đón nắng sáng và gió mát, trồng cây là hợp; cuối nhà hướng Tây Bắc nhận nắng chiều mùa hè, đặt khu phụ ở đó giúp chắn nhiệt cho phòng ngủ; bức tường Tây Nam nếu không giáp nhà bên thì cần chống nóng.
Ví dụ cho thấy khi bản đồ hướng – hành trùng với logic khí hậu thì lời khuyên dễ thuyết phục. Khi hai bên mâu thuẫn, chẳng hạn quan niệm muốn đặt phòng ngủ ở phía Tây nắng gắt, nên để khí hậu và sức khoẻ của người ở quyết định trước.
Một cách làm gọn cho người tự xem là ghi hai lớp lên cùng một tờ mặt bằng: lớp thứ nhất là hướng nắng sáng, nắng chiều, hướng gió chính theo mùa ở địa phương; lớp thứ hai là hành quy ước của từng phương. Chỗ hai lớp đồng thuận thì làm theo mà không phải băn khoăn; chỗ hai lớp vênh nhau thì giải quyết lớp khí hậu trước, sau đó nếu còn muốn mới dùng màu sắc, vật liệu nhỏ để chiều theo lớp quy ước. Cách ghi hai lớp này cũng giúp cuộc trao đổi với kiến trúc sư hay thợ xây rõ ràng hơn, vì mọi người nhìn cùng một tờ giấy.
Câu hỏi thường gặp
Hướng nhà thuộc hành gì có liên quan đến mệnh của chủ nhà không?
Hai hệ khác nhau. Hành của hướng theo bát quái là cố định; mệnh của người theo ngũ hành nạp âm tính từ năm sinh. Một số người so hai thứ này với nhau, nhưng các trường phái lý khí phổ biến thường dùng cung phi hoặc phi tinh thay vì so trực tiếp như vậy.
Vì sao phương Tây thuộc Kim mà lại là hướng nóng nhất?
Quy ước gắn phương Tây với mùa thu và buổi chiều tà, lúc mọi thứ thu lại, nên gán Kim. Còn nóng hay không là chuyện vật lý: nắng chiều chiếu xiên vào tường sau cả ngày tích nhiệt. Hai chuyện thuộc hai tầng khác nhau, không mâu thuẫn.
Ở Nam bán cầu có đảo ngũ hành của hướng không?
Đây là điểm còn tranh luận. Một số người cho rằng nên đảo Bắc – Nam vì mặt trời ở phía Bắc; số khác giữ nguyên vì coi la kinh và bát quái là hệ cố định. Với người ở Việt Nam, câu hỏi này không ảnh hưởng.
Ở căn hộ chung cư thì lấy hướng nào để gán hành?
Các trường phái khác nhau: có người lấy hướng cửa căn hộ, có người lấy hướng ban công hay cửa sổ lớn nhất. Còn khi gán hành cho từng góc thì đặt theo phương vị thật của góc đó, đo từ tâm căn hộ.
Có thể dùng điện thoại đo hướng để gán hành không?
Được, nếu hiệu chỉnh la bàn trên máy và đứng xa vật kim loại, thiết bị điện. Nên đo vài lần ở vài điểm rồi lấy kết quả ổn định. Lệch vài độ ít khi đổi phương, nhưng lệch hàng chục độ thì có thể gán sai cả hướng.