Trên lịch vạn sự, sao trực ngày thường được ghi bằng tên ba chữ như Giác Mộc Giao, Cang Kim Long, Phòng Nhật Thố. Chữ thứ nhất là tên một trong 28 chòm sao (nhị thập bát tú), chữ thứ hai là một trong bảy diệu Mộc, Kim, Thổ, Nhật, Nguyệt, Hỏa, Thủy, chữ thứ ba là một con vật biểu tượng. Bảy diệu chạy lặp theo thứ tự cố định, nên vòng 28 sao khớp đúng bốn lần với tuần lễ bảy ngày: sao mang chữ Nhật luôn rơi vào Chủ nhật, sao mang chữ Nguyệt luôn rơi vào thứ Hai.
Bài này không bàn chuyện sao nào tốt sao nào xấu cho từng việc, vì phần đó mỗi cuốn lịch ghi một kiểu. Bài tập trung giải nghĩa cái tên, chỉ ra cấu trúc bốn nhóm bảy sao và vì sao một hệ gốc thiên văn lại thành vòng đếm ngày không còn liên quan tới bầu trời. Hiểu cái tên rồi, bạn đọc dòng sao trên lịch sẽ không còn thấy như đọc mật mã. Tốt xấu của từng sao là quan niệm của sách lịch, mức tin tuỳ mỗi người.
Nhị thập bát tú gốc là gì
Nhị thập bát tú nghĩa là hai mươi tám chỗ trọ. Người xưa chia dải trời mà mặt trăng đi qua thành 28 phần, mỗi phần ứng với một chòm sao làm mốc. Mặt trăng đi hết một vòng giữa các vì sao mất khoảng hai mươi bảy ngày rưỡi, nên mỗi đêm nó "trọ" gần một chòm. Đây là cơ sở thiên văn của con số 28, và các nền văn hoá khác như Ấn Độ, Ả Rập cũng có hệ "trạm trăng" tương tự.
Các chòm này rộng hẹp không đều. Có chòm trải hơn ba mươi độ trên vòm trời, có chòm chỉ vài độ. Trong lịch pháp cổ, chúng được dùng để ghi vị trí mặt trời, mặt trăng, các hành tinh và để chia khu vực trên trời ứng với các vùng đất dưới đất.
Ở Việt Nam, tên các chòm còn sống trong lời ăn tiếng nói và trong văn chương: tên sao Ngưu, sao Nữ dễ khiến người ta nghĩ tới chuyện Ngưu Lang Chức Nữ, dù hai ngôi sao sáng trong truyện là những sao khác nằm ở vùng trời lân cận; còn sao Hôm, sao Mai là Kim tinh, không thuộc 28 tú. Nhiều người nghe quen tên mà không biết chúng thuộc cùng một hệ chia trời.
Đến khi đi vào lịch chọn ngày, 28 sao rời khỏi bầu trời thật. Mỗi ngày được gán một sao theo vòng đếm đều đặn, ngày sau sao kế tiếp, hết 28 thì quay lại. Sao trực ngày trên lịch vì vậy không cho biết mặt trăng đêm đó đang ở đâu. Đây là điểm nhiều người hiểu nhầm: đọc "ngày sao Giác" và nghĩ tối đó trăng nằm cạnh chòm Giác. Thực ra hai thứ đã tách nhau từ lâu.
Bốn nhóm bảy sao theo tứ tượng
28 sao chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm bảy sao, ứng với bốn phương và bốn linh vật. Bảng dưới ghi đủ tên ba chữ theo thứ tự vòng.
| Phương và tứ tượng | Bảy sao (tên ba chữ) |
|---|---|
| Đông – Thanh Long | Giác Mộc Giao, Cang Kim Long, Đê Thổ Lạc, Phòng Nhật Thố, Tâm Nguyệt Hồ, Vĩ Hỏa Hổ, Cơ Thủy Báo |
| Bắc – Huyền Vũ | Đẩu Mộc Giải, Ngưu Kim Ngưu, Nữ Thổ Bức, Hư Nhật Thử, Nguy Nguyệt Yến, Thất Hỏa Trư, Bích Thủy Du |
| Tây – Bạch Hổ | Khuê Mộc Lang, Lâu Kim Cẩu, Vị Thổ Trĩ, Mão Nhật Kê, Tất Nguyệt Ô, Chủy Hỏa Hầu, Sâm Thủy Viên |
| Nam – Chu Tước | Tỉnh Mộc Hãn, Quỷ Kim Dương, Liễu Thổ Chương, Tinh Nhật Mã, Trương Nguyệt Lộc, Dực Hỏa Xà, Chẩn Thủy Dẫn |
Nhìn cột phải sẽ thấy chữ thứ hai lặp đều: Mộc, Kim, Thổ, Nhật, Nguyệt, Hỏa, Thủy, rồi lại Mộc. Mỗi nhóm bảy sao dùng đủ một lượt bảy diệu, và bốn nhóm lặp bốn lượt.
Tên bốn nhóm Thanh Long, Huyền Vũ, Bạch Hổ, Chu Tước trùng với tứ linh trong phong thủy hình thế. Ở đây chúng là tên bốn khu vực trên trời, không phải thế đất quanh nhà; đừng chuyển nghĩa qua lại giữa hai hệ.
Chữ thứ hai: bảy diệu và thứ trong tuần
Bảy diệu là gì. Gồm mặt trời (Nhật), mặt trăng (Nguyệt) và năm hành tinh nhìn được bằng mắt thường mang tên ngũ hành: Mộc tinh, Kim tinh, Thổ tinh, Hỏa tinh, Thủy tinh. Đây là các "diệu" (vật sáng) chuyển động trên nền sao.
Thứ trong tuần cũng mang tên bảy diệu. Trong tiếng Nhật, tiếng Hàn và trong cách gọi cổ, Chủ nhật là ngày Nhật diệu, thứ Hai là Nguyệt diệu, thứ Ba là Hỏa diệu, thứ Tư là Thủy diệu, thứ Năm là Mộc diệu, thứ Sáu là Kim diệu, thứ Bảy là Thổ diệu. Các ngôn ngữ châu Âu cũng gọi ngày trong tuần theo các thiên thể này.
Vì sao vòng 28 sao khớp với tuần. 28 chia hết cho 7. Khi vòng sao được neo sao cho sao mang chữ Nhật rơi vào Chủ nhật, thì cứ thế mãi: sao Phòng, Hư, Mão, Tinh (đều mang chữ Nhật) luôn là Chủ nhật; sao Tâm, Nguy, Tất, Trương (chữ Nguyệt) luôn là thứ Hai; sao Giác, Đẩu, Khuê, Tỉnh (chữ Mộc) luôn là thứ Năm.
Một phép kiểm nhanh. Nếu lịch ghi thứ Năm mà sao trực ngày lại mang chữ Thổ, rất có thể lịch đó in sai hoặc dùng một cách neo khác. Với lịch theo lối phổ biến hiện nay, chữ thứ hai của sao phải khớp với thứ trong tuần.
Chữ diệu không quyết định tốt xấu. Chữ Mộc, Kim trong tên sao là để đánh dấu thứ tự và ngày trong tuần. Một số người suy thêm ngũ hành từ chữ này để luận hợp khắc với tuổi, nhưng đó là lớp giải thích thêm, không phải quy tắc gốc của vòng sao.
Chữ thứ ba: hai mươi tám con vật
Mỗi sao được gán một con vật, tạo thành một bộ thú lớn hơn hẳn mười hai con giáp. Phần lớn là con quen thuộc: Long là rồng, Thố là thỏ, Hồ là cáo, Hổ, Báo, Ngưu là trâu bò, Bức là dơi, Thử là chuột, Yến là chim én, Trư là lợn, Lang là sói, Cẩu là chó, Trĩ là chim trĩ, Kê là gà, Ô là quạ, Hầu là khỉ, Viên là vượn, Dương là dê, Chương là con hoẵng, Mã là ngựa, Lộc là hươu, Xà là rắn, Dẫn là con giun.
Một vài con khó dịch hơn. Giao là loài giống rồng sống dưới nước, dân gian hay gọi thuồng luồng. Lạc là một loài thú nhỏ ăn đêm họ chó. Giải và Du là thú trong truyền thuyết, các bản dịch Việt gọi khác nhau. Hãn là một loài chó rừng. Khi gặp tên lạ, không cần cố tìm con vật ngoài đời, vì người soạn lịch dùng chúng làm biểu tượng.
Có một quy luật thú vị: mười hai trong hai mươi tám con trùng với mười hai con giáp, và chúng được đặt ở vị trí ứng với phương của con giáp ấy. Chẳng hạn Thử (chuột) nằm ở sao Hư thuộc phương Bắc, đúng phương của chi Tý; Mã (ngựa) nằm ở sao Tinh thuộc phương Nam, đúng phương của chi Ngọ. Cách sắp này cho thấy người soạn đã ghép hệ 28 sao với hệ mười hai chi một cách có chủ ý.
Tìm sao trực của một ngày khi đã biết thứ trong tuần
Vì vòng 28 sao gắn với tuần lễ, thứ trong tuần thu hẹp ngay khả năng xuống còn bốn sao. Thứ Năm chỉ có thể là Giác, Đẩu, Khuê hoặc Tỉnh; thứ Bảy chỉ có thể là Đê, Nữ, Vị hoặc Liễu (các sao mang chữ Thổ); Chủ nhật là Phòng, Hư, Mão hoặc Tinh. Bốn khả năng này lần lượt thay nhau mỗi tuần, nên cùng một thứ trong tuần sẽ đi hết bốn sao sau bốn tuần rồi lặp lại.
Từ đó có một cách nhẩm đơn giản: nếu biết hôm nay là sao gì, sau đúng 28 ngày (bốn tuần) sẽ lại là sao ấy. Sau 7 ngày, sao sẽ nhảy sang sao cùng chữ diệu ở nhóm kế tiếp: ví dụ giả định, Chủ nhật này là Phòng (nhóm Thanh Long) thì Chủ nhật tới là Hư (nhóm Huyền Vũ), Chủ nhật sau nữa là Mão (nhóm Bạch Hổ), rồi Tinh (nhóm Chu Tước), rồi quay về Phòng.
Cách nhẩm này giúp ích khi gia đình chỉ có thể làm việc vào một thứ cố định trong tuần, chẳng hạn chỉ Chủ nhật. Bạn biết ngay trong tháng sẽ gặp những sao nào và không phải tra từng ngày. Nó cũng là phép kiểm nhanh khi thấy hai cuốn lịch ghi sao khác nhau: bên nào phá vỡ quy luật bốn tuần thì bên đó có vấn đề.
Sao trực ngày được dùng thế nào khi chọn ngày làm nhà
Mỗi sao có một bài phú ngắn nói việc nên, việc kỵ. Lịch vạn sự thường chép lại ý chính: sao này tốt cho xây cất, cưới hỏi; sao kia kỵ chôn cất, kỵ khai trương. Một sao có thể tốt cho việc này mà kỵ việc khác. Ví dụ, nhiều lịch ghi sao Giác hợp cưới hỏi, xây cất nhưng kỵ việc mồ mả; sao Thất và sao Bích hay được ghi thuận cho xây dựng. Các bản lịch không hoàn toàn thống nhất ở từng sao.
Trong lối thông thư, sao trực ngày là một lớp phụ. Người làm nghề thường xét trực, thần sát theo tháng, tuổi gia chủ trước, sau đó mới nhìn sao như một điểm cộng hoặc trừ nhỏ. Vì vòng sao không phụ thuộc tháng, một sao "tốt" có thể rơi vào ngày Phá, và khi ấy ít ai chọn ngày đó chỉ vì sao.
Với gia đình tự chọn ngày, sao trực ngày hữu ích ở một điểm thực tế: nó gắn với thứ trong tuần. Nếu cả nhà chỉ rảnh cuối tuần, bạn sẽ chỉ gặp các sao mang chữ Thổ và chữ Nhật. Muốn có sao được lịch ghi tốt cho xây dựng vào Chủ nhật hay thứ Bảy thì phải chờ đúng vòng. Biết điều này giúp bạn khỏi mất công lật lịch tìm một tổ hợp không thể có.
Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người. Vòng sao là hệ đếm biểu tượng, không đo được thời tiết hay chất lượng công trình.
Câu hỏi thường gặp
Nhị thập bát tú trong lịch có liên quan đến vị trí mặt trăng thật không?
Gốc của hệ là 28 chòm sao trên đường đi của mặt trăng. Nhưng trong lịch chọn ngày, mỗi ngày được gán sao theo vòng đếm đều 28 ngày, không theo vị trí trăng thực tế. Vì vậy sao trực ngày không cho biết trăng đang ở chòm nào.
Vì sao sao Phòng luôn rơi vào Chủ nhật?
Phòng mang chữ Nhật trong tên Phòng Nhật Thố. Vòng 28 sao được neo với tuần lễ, và 28 chia hết cho 7, nên các sao mang chữ Nhật gồm Phòng, Hư, Mão, Tinh luôn trùng Chủ nhật theo cách tính phổ biến hiện nay.
Tên con vật trong sao có ý nghĩa tốt xấu không?
Con vật là biểu tượng gắn với từng sao, giúp nhớ và tạo hình ảnh. Một số người luận tốt xấu từ con vật, nhưng quy tắc nên kỵ của mỗi sao lấy từ bài phú riêng chứ không suy ra từ con vật. Gặp sao mang tên con vật mình không thích cũng không có gì phải lo.
28 sao có giống 12 con giáp không?
Không. Mười hai con giáp đi theo vòng mười hai địa chi, còn 28 sao là vòng riêng. Có mười hai con vật trong 28 sao trùng với con giáp và được đặt ở phương tương ứng, nhưng hai vòng chạy độc lập.
Lịch ghi sao khác với thứ trong tuần thì nên tin bên nào?
Theo cách tính phổ biến, chữ thứ hai trong tên sao phải khớp với thứ trong tuần. Nếu lệch, có thể cuốn lịch in sai hoặc dùng cách neo khác. Nên kiểm thêm một nguồn khác trước khi dùng.
Có cần thuộc hết 28 sao không?
Không cần. Nếu thích tìm hiểu, chỉ cần nhớ bảy diệu theo thứ tự Mộc, Kim, Thổ, Nhật, Nguyệt, Hỏa, Thủy và tên bảy sao đầu nhóm Thanh Long là đã đọc được cấu trúc của cả vòng.