Trước khi so một con số trên bản vẽ với thước Lỗ Ban, cần biết con số đó đo cái gì: lỗ tường chờ sẵn (ô chờ), mép ngoài khung cửa, hay khoảng lọt lòng khi cánh mở (thông thủy). Ba con số này có thể chênh nhau tới mười centimet trở lên, đủ để rơi từ cung này sang cung khác trên thước. Phần lớn tranh cãi "cửa đúng Lỗ Ban hay không" bắt nguồn từ việc hai người đang đo hai thứ khác nhau.
Thước Lỗ Ban là quy ước dân gian về kích thước đẹp, được nhiều gia đình Việt dùng khi làm cửa, bàn thờ, bậc thềm. Bài này không bàn ý nghĩa từng cung trên thước; nó chỉ cách đọc kích thước trên bản vẽ, quy đổi về đúng đại lượng cần so, và chừa sai số thi công. Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người; kích thước cửa thoát nạn, chiều cao lan can, chiều cao bậc thì theo quy chuẩn, không đổi theo thước.
Ba loại thước Lỗ Ban và thứ thường được đem ra đo
Thước Lỗ Ban bán phổ biến ở Việt Nam thường in ba hàng, mỗi hàng ứng với một chu kỳ khác nhau. Theo cách dùng phổ biến:
- Hàng chu kỳ 52,2 cm: dùng cho khoảng thông thủy, tức khoảng trống lọt lòng, như cửa đi, cửa sổ, ô thoáng.
- Hàng chu kỳ 42,9 cm: dùng cho khối đặc của nhà ở như bệ bếp, bậc, tủ, móng, các khối xây.
- Hàng chu kỳ 38,8 cm: dùng cho đồ thờ và phần âm phần như bàn thờ, khám thờ, mộ.
Cách phân công này là quy ước được nhiều người làm nghề dùng, không phải tiêu chuẩn kỹ thuật, và có nơi dùng khác. Điểm quan trọng với người đọc bản vẽ là: hàng 52,2 cm đo khoảng trống, hai hàng còn lại đo vật đặc. Đo cửa mà lấy kích thước khung ngoài là đang dùng hàng thông thủy để đo một vật đặc.
Mỗi hàng chia thành tám cung, mỗi cung dài bằng một phần tám chu kỳ, với hàng 52,2 cm là khoảng 6,5 cm. Cung được tô đỏ thường là cung đẹp theo quan niệm. Vì mỗi cung rộng vài centimet, sai số một hai centimet đủ để rơi ra mép cung.
Đọc đường ghi kích thước trên mặt bằng trước đã
Trước khi đụng tới thước Lỗ Ban, cần đọc đúng các đường ghi kích thước trên bản vẽ. Trên mặt bằng kiến trúc ở Việt Nam, kích thước thường ghi bằng milimét, không kèm đơn vị: số 3300 nghĩa là 3,3 m. Bản vẽ thường có ba lớp đường kích thước ở ngoài mép nhà: lớp ngoài cùng là tổng chiều dài, lớp giữa là khoảng cách giữa các trục, lớp trong cùng chia nhỏ tới từng mảng tường và lỗ cửa.
Khoảng cách giữa các trục đo từ tim trục này tới tim trục kia, thường trùng tim tường hoặc tim cột. Đó không phải khoảng thông thủy của phòng. Muốn biết lòng phòng rộng bao nhiêu, phải trừ đi mỗi bên một nửa bề dày tường, hoặc tìm đường kích thước lớp trong cùng đo từ mép tường. Tường gạch thường dày khoảng 100 đến 220 mm tuỳ loại, nên một phòng ghi trục 3300 có thể chỉ rộng chừng 3,1 m trong lòng.
Với cửa, lớp kích thước trong cùng thường cho biết mảng tường hai bên và bề rộng lỗ cửa. Đây là con số ô chờ, chưa trừ khung. Nhầm giữa ba loại con số này, kích thước trục, kích thước lòng phòng và kích thước ô chờ, là gốc của phần lớn sai lệch khi đem bản vẽ ra so thước.
Con số trên bản vẽ cửa đang đo cái gì
Kích thước cửa trên bản vẽ có thể xuất hiện ở ba chỗ: đường ghi kích thước trên mặt bằng, mặt đứng cửa và bảng thống kê cửa. Mỗi đơn vị thiết kế có thói quen riêng, nên phải đọc ghi chú. Ba khả năng hay gặp:
| Loại kích thước | Đo từ đâu đến đâu | Thường ghi ở | So với hàng nào của thước |
|---|---|---|---|
| Ô chờ (lỗ tường) | Mép tường bên này tới mép tường bên kia của lỗ cửa | Mặt bằng kiến trúc, mặt bằng xây tường | Không so trực tiếp; phải trừ khung |
| Phủ bì khung | Mép ngoài khung cửa bên này tới bên kia | Bảng thống kê cửa, chi tiết cửa | Không so trực tiếp với hàng thông thủy |
| Lọt lòng (thông thủy) | Mép trong khung bên này tới mép trong bên kia | Chi tiết cửa, hoặc ghi chú riêng | Hàng 52,2 cm |
Nếu bản vẽ chỉ ghi một con số kiểu "D1: 900 × 2200" mà không nói rõ, hãy hỏi người thiết kế đó là kích thước gì. Câu hỏi rất ngắn, nhưng tiết kiệm được một bộ khung cửa làm lại.
Quy đổi từ ô chờ sang thông thủy: ví dụ giả định
Ví dụ giả định cho một cửa đi gỗ. Các con số chỉ để minh hoạ cách tính; kích thước khung thật tuỳ vật liệu và xưởng làm.
- Bản vẽ ghi ô chờ rộng 1000 mm, cao 2250 mm tính từ mặt sàn hoàn thiện.
- Khe chèn giữa khung và tường mỗi bên khoảng 10 mm; khung gỗ có bản rộng 60 mm.
- Chiều rộng lọt lòng = 1000 − 2 × 10 − 2 × 60 = 860 mm, tức 86 cm.
- Chiều cao lọt lòng: phía trên trừ khe và khung (10 + 60 = 70 mm), phía dưới cửa đi thường không có khung ngang, nên còn khoảng 2250 − 70 = 2180 mm, tức 218 cm.
- Đặt 86 cm và 218 cm lên hàng 52,2 cm của thước để xem rơi vào cung nào.
- Nếu cần chỉnh để vào cung mong muốn, chỉnh kích thước lọt lòng trước, rồi tính ngược ra ô chờ và báo người thiết kế sửa trên bản vẽ.
Thứ tự ngược lại, chọn số thông thủy trước rồi tính ra ô chờ, là cách nhiều thợ cửa có kinh nghiệm làm. Điều quan trọng là bản vẽ cuối cùng ghi rõ cả hai con số để thợ xây chừa lỗ đúng và thợ cửa làm khung đúng.
Cao độ hoàn thiện và chiều cao cửa
Chiều cao cửa hay bị lệch vì một lý do ít người để ý: sàn. Bản vẽ kiến trúc thường lấy cao độ theo mặt sàn hoàn thiện, tức đã có lớp vữa và gạch lát. Nhưng khi thợ xây chừa lỗ cửa, sàn mới chỉ là bê tông thô. Lớp lát nền có thể dày năm centimet hoặc hơn. Nếu thợ đo chiều cao lỗ cửa từ mặt bê tông, sau khi lát nền, cửa sẽ thấp đi đúng bằng bề dày lớp lát.
Khi đọc bản vẽ, xem ghi chú cao độ: số ±0.000 là mặt sàn hoàn thiện hay mặt bê tông. Với cửa đã đặt theo thước Lỗ Ban, hãy nhắc đội thi công đo chiều cao từ cao độ hoàn thiện, đánh dấu lên tường bằng mực. Với cửa phòng vệ sinh, sàn thường hạ thấp hoặc có gờ chắn nước, nên chiều cao thông thủy phía trong và phía ngoài có thể khác nhau; chọn một phía làm chuẩn và ghi lại.
Điều tương tự xảy ra với bàn thờ đặt trên bục, bậc tam cấp và ngưỡng cửa. Mỗi lớp hoàn thiện thêm vào là một con số thay đổi. Một bảng nhỏ ghi kích thước thô và kích thước hoàn thiện cho các hạng mục đã chọn theo Lỗ Ban giúp cả đội làm đúng. Bảng đó dán ngay tại công trình, chỗ thợ nhìn thấy hằng ngày, có tác dụng hơn nhiều so với một ghi chú nằm trong tập hồ sơ.
Các hạng mục khác hay đem so thước và chỗ đọc trên bản vẽ
Ngoài cửa, gia đình thường muốn đối chiếu thêm vài hạng mục. Mỗi hạng mục nằm ở một tờ khác nhau và cần hiểu con số đo phần nào.
| Hạng mục | Hàng thước hay dùng | Đọc ở tờ nào | Con số cần lấy |
|---|---|---|---|
| Bàn thờ, khám thờ | 38,8 cm | Chi tiết nội thất phòng thờ | Kích thước phủ bì mặt bàn: dài, sâu, cao tính từ sàn hoàn thiện |
| Bệ bếp, tủ bếp dưới | 42,9 cm | Chi tiết tủ bếp | Chiều cao mặt đá hoàn thiện, chiều dài từng đoạn |
| Bậc tam cấp | 42,9 cm | Mặt cắt lối vào, chi tiết bậc | Chiều cao, chiều rộng mặt bậc sau khi ốp lát |
| Cửa sổ, ô thoáng | 52,2 cm | Mặt đứng, bảng thống kê cửa | Kích thước lọt lòng phần mở |
| Cổng | 52,2 cm | Chi tiết cổng, tổng mặt bằng | Khoảng thông thủy giữa hai trụ khi mở hết cánh |
Bàn thờ và bậc là hai hạng mục hay lệch vì lớp hoàn thiện: đá ốp mặt bàn thờ dày thêm, gạch ốp bậc làm bậc cao thêm. Đọc con số trên bản chi tiết đã tính lớp hoàn thiện chưa, nếu chưa thì cộng vào trước khi so. Riêng chiều cao bậc thang, bậc thềm còn phải bảo đảm đi lại an toàn; đừng đẩy bậc cao quá mức quen chân chỉ để vào một cung trên thước.
Sai số thi công và cách chọn số an toàn
Chọn số ở giữa cung. Mỗi cung trên hàng 52,2 cm rộng khoảng 6,5 cm. Chọn kích thước rơi vào khoảng giữa cung thì sai số thi công một hai centimet vẫn nằm trong cung. Chọn sát mép cung là đặt cược vào tay nghề tuyệt đối của thợ.
Ghi dung sai vào bản vẽ. Viết kèm ghi chú như "lọt lòng 860, cho phép ±10" để thợ biết giới hạn. Bản vẽ không ghi dung sai thì thợ làm theo thói quen.
Đo lại sau khi lắp khung. Khung cửa có thể bị kê lệch, chèn vữa làm khung cong. Đo lại lọt lòng ngay sau khi lắp khung, trước khi trát hoàn thiện, là lúc còn sửa được.
Đừng ép kích thước quy chuẩn. Cửa thoát nạn, lối đi cho người dùng xe lăn hay chiều cao lan can có yêu cầu tối thiểu. Nếu cung đẹp nằm dưới mức tối thiểu, chọn cung đẹp kế tiếp lớn hơn, không thu nhỏ cửa.
Thống nhất một cây thước. Thước Lỗ Ban bán ngoài thị trường có loại in sai chu kỳ hoặc in lệch vạch. Trước khi đo, kiểm thước bằng thước thép thường: một chu kỳ hàng thông thủy phải đúng 52,2 cm. Chủ nhà, người thiết kế và thợ nên dùng cùng một cây thước hoặc cùng một bảng số đã tra sẵn, tránh mỗi người đo một kiểu rồi cãi nhau trên công trường.
Câu hỏi thường gặp
Bảng thống kê cửa ghi kích thước gì?
Tuỳ đơn vị thiết kế. Có nơi ghi kích thước ô chờ, có nơi ghi phủ bì khung, ít nơi ghi lọt lòng. Đọc phần chú thích của bảng hoặc hỏi trực tiếp. Nếu bạn quan tâm thước Lỗ Ban, đề nghị bổ sung thêm cột kích thước thông thủy.
Cửa nhôm kính đo thông thủy thế nào?
Cách làm giống cửa gỗ: đo từ mép trong khung bao bên này tới mép trong bên kia khi cánh mở. Với cửa lùa, khoảng thông thủy là phần mở được thật, nhỏ hơn khung bao vì cánh chồng lên nhau. Hỏi xưởng nhôm kích thước khung bao cụ thể của hệ đang dùng.
Cửa hai cánh thì đo thông thủy cả cửa hay từng cánh?
Theo cách dùng phổ biến, đo thông thủy cả bộ cửa khi mở hết các cánh, tức khoảng trống người và đồ đi qua được. Một số người đo thêm từng cánh, nhưng con số được nhắc nhiều nhất vẫn là khoảng thông thủy toàn bộ.
Cửa đã làm xong lệch cung một chút có cần làm lại không?
Thường không cần. Thước Lỗ Ban là quy ước dân gian, và lệch một hai centimet nằm trong sai số thi công bình thường. Nếu gia đình rất để tâm, có thể điều chỉnh bằng nẹp, ốp khuôn nhẹ thay vì thay cả khung.
Thước Lỗ Ban có áp dụng cho cửa căn hộ chung cư không?
Cửa chính căn hộ thường do chủ đầu tư lắp theo thiết kế chung, đạt yêu cầu chống cháy và kích thước thoát nạn. Người mua thường không đổi được. Với cửa phòng bên trong, nếu thay mới, bạn có thể chọn kích thước theo thước Lỗ Ban trong phạm vi ô chờ sẵn có.