Đặt tên theo số nét là cách đếm nét chữ Hán của tên, ghép thành vài "cách" (thường là năm, gọi là ngũ cách), rồi tra từng con số trong một bảng 81 số được gán nghĩa tốt, xấu hoặc nửa tốt nửa xấu. Phép này phổ biến ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ 20, sau lan sang Đài Loan, Hồng Kông và vào các sách đặt tên tiếng Việt. Người ta dùng nó cho tên người, rồi mở rộng sang tên công ty, tên thương hiệu.
Bài này giải thích nguồn gốc theo những gì được ghi nhận khá thống nhất, cách tính ngũ cách, các quy ước đếm nét gây tranh cãi, và lý do khiến phép này rất khó áp dụng cho tên tiếng Việt viết bằng chữ Quốc ngữ. Đây là quan niệm văn hoá, mức tin tuỳ mỗi người; chưa có bằng chứng nào cho thấy số nét của tên liên quan đến kết quả kinh doanh.
Phép số nét từ đâu ra
Việc gán ý nghĩa cho con số có truyền thống rất lâu trong văn hoá Trung Hoa, gắn với Hà đồ, Lạc thư và các hệ số học trong Dịch học. Tuy vậy, phép đặt tên theo số nét với cấu trúc ngũ cách và bảng 81 số như người ta dùng hôm nay là sản phẩm khá gần. Nhiều tài liệu ghi nhận nó được hệ thống hoá ở Nhật Bản vào khoảng những năm 1920–1930, thường gắn với tên Kumazaki Kenō, rồi được các tác giả Đài Loan, Hồng Kông chuyển thể, có sửa đổi.
Bảng 81 số thường được giải thích là lấy cảm hứng từ một hệ số học cổ, nhưng cách gán cát – hung cho từng con số trong bảng hiện hành là do các tác giả cận đại sắp xếp. Vì thế mỗi trường phái có thể chép bảng hơi khác nhau ở vài con số, và lời giải thích từng số cũng khác nhau giữa các sách.
Biết điều này giúp bạn đặt phép số nét đúng chỗ: nó không phải "phong thủy cổ" theo nghĩa của Táng thư hay các sách dương trạch, mà là một phép đặt tên hiện đại mượn khung số học cổ. Những sách đặt tên tiếng Việt chép lại phép này thường không ghi nguồn rõ, nên khi gặp một bảng 81 số, bạn nên hỏi bảng ấy chép theo trường phái nào.
Ngũ cách tính thế nào
Với tên người có họ một chữ, cách tính phổ biến như bảng dưới. Các trường phái có quy tắc thêm, bớt riêng cho họ kép, tên đơn; bảng chỉ nêu dạng thường gặp.
| Cách | Cách tính phổ biến | Được hiểu là |
|---|---|---|
| Thiên cách | Số nét của họ cộng thêm 1 | Phần do tổ tiên để lại, thường không xét tốt xấu |
| Nhân cách | Nét chữ cuối của họ cộng nét chữ đầu của tên | Phần cốt lõi, nhiều sách coi là quan trọng nhất |
| Địa cách | Tổng nét các chữ của tên (tên một chữ thì cộng thêm 1) | Phần nền tảng, giai đoạn đầu |
| Ngoại cách | Tổng cách trừ Nhân cách (có quy tắc cộng thêm tuỳ trường hợp) | Quan hệ bên ngoài |
| Tổng cách | Tổng nét của toàn bộ họ và tên | Tổng thể, giai đoạn sau |
Con số vượt 81 thường được trừ đi 80 rồi tra lại. Chữ số hàng đơn vị của mỗi cách được quy ra ngũ hành theo cặp: 1–2 Mộc, 3–4 Hỏa, 5–6 Thổ, 7–8 Kim, 9–0 Thủy; người ta xem ba cách Thiên – Nhân – Địa có tương sinh với nhau hay không, gọi là "tam tài".
Áp vào tên công ty, tên thương hiệu
Tên thương hiệu không có họ, nên không có cách nào "chuẩn" để chia thiên, nhân, địa. Các sách đặt tên công ty thường làm theo một trong ba hướng. Hướng thứ nhất chỉ tính tổng cách, tức tổng số nét của toàn bộ tên, rồi tra bảng 81 số. Hướng thứ hai coi chữ đầu là "họ", phần còn lại là "tên", rồi tính đủ năm cách như tên người. Hướng thứ ba tách tên thương hiệu khỏi phần loại hình doanh nghiệp, chỉ tính phần tên riêng.
Ba hướng cho ra ba bộ số khác nhau với cùng một cái tên. Thêm vào đó là câu hỏi có tính các chữ như "Công ty", "TNHH", "Cổ phần" hay không — đa số không tính, nhưng không phải tất cả. Ví dụ giả định: một tên hai chữ, nếu chỉ tính tổng cách có thể rơi vào số được xếp tốt, nhưng nếu tách "họ" và "tên" thì nhân cách lại rơi vào số được xếp xấu. Người đặt tên khi ấy thường chọn hướng tính cho kết quả mình thích, và đây chính là điểm yếu lớn nhất của phép này khi áp cho thương hiệu.
Còn một câu hỏi ít được nhắc: tính cho tên pháp nhân hay tên thương hiệu. Nhiều doanh nghiệp có tên đăng ký một kiểu, tên in trên biển và bao bì một kiểu khác. Theo lối nghĩ của chính phép số nét, cái tên được gọi, được viết nhiều nhất mới là cái tên "sống", nên nếu muốn tính, nhiều người chọn tên thương hiệu mà khách nhìn thấy hằng ngày.
Ví dụ giả định: một tên, ba hướng tính
Ví dụ giả định: tên thương hiệu hai chữ, giả sử chữ thứ nhất có 8 nét, chữ thứ hai có 12 nét theo một quy ước đếm đã chọn. Bảng cho thấy ba hướng tính phổ biến dẫn đến những con số khác nhau như thế nào; các con số chỉ để minh hoạ cách tính, không tra nghĩa cụ thể.
| Hướng tính | Cách làm | Con số thu được | Nhận xét |
|---|---|---|---|
| Chỉ tổng cách | Cộng nét hai chữ: 8 + 12 | Tổng cách 20 | Gọn, chỉ một con số để tra |
| Coi chữ đầu là "họ" | Thiên 8 + 1 = 9; Nhân 8 + 12 = 20; Địa 12 + 1 = 13; Tổng 20 | Bốn con số, thêm Ngoại cách | Nhiều số hơn, nhiều chỗ để rơi vào số không đẹp |
| Đếm lại theo quy ước khác | Chữ thứ hai có bộ thủ tính theo dạng gốc thành 14 nét | Tổng cách 22 | Chỉ đổi quy ước đếm, con số đã đổi |
Ba dòng trong bảng cùng mô tả một cái tên, nhưng nếu tra bảng 81 số, chúng có thể rơi vào ba ô mang lời giải khác nhau. Đó là lý do người dùng phép số nét cần chọn hướng tính và quy ước đếm trước, ghi lại, rồi mới tra. Nếu không, rất dễ rơi vào tình huống "tính mãi cho tới khi ra số đẹp", và khi ấy con số không còn nói lên điều gì ngoài mong muốn của người tính.
Đếm nét: những quy ước gây tranh cãi
Phồn thể hay giản thể. Đa số trường phái đếm theo chữ phồn thể, nhiều sách nói theo cách viết trong Khang Hy tự điển. Cùng một chữ, đếm theo giản thể có thể ít hơn vài nét, đổi hẳn con số tra bảng.
Bộ thủ tính theo dạng gốc. Một số trường phái tính bộ thủ rút gọn theo dạng đầy đủ của nó: bộ ba chấm thủy tính như chữ Thủy, bộ tay tính như chữ Thủ, bộ thảo đầu tính như dạng gốc. Trường phái khác đếm đúng nét viết. Chênh lệch có thể lên vài nét mỗi chữ.
Chữ số tính theo giá trị. Có trường phái đếm chữ chỉ số theo giá trị con số chứ không theo nét viết, ví dụ chữ "tứ" tính là 4, chữ "cửu" tính là 9, dù số nét viết thực tế khác.
Một âm, nhiều chữ. Với tên tiếng Việt, đây là quy ước lớn nhất: phải chọn chữ Hán trước khi đếm. "An", "Phúc", "Minh" đều ứng với nhiều chữ khác nhau, số nét khác nhau.
Tên không có chữ Hán. Tên thuần Việt, tên tiếng Anh, tên ghép chữ cái không có cách đếm nét được chấp nhận chung. Một số người đếm nét chữ Latinh, nhưng đó là sáng chế riêng, không thuộc phép gốc.
Vì sao phép số nét khó áp cho tên Việt
Gộp các điểm trên, có ít nhất năm lý do khiến phép số nét kém ổn định khi dùng cho tên thương hiệu tiếng Việt:
- Chữ Quốc ngữ không mang thông tin chữ Hán, nên số nét phụ thuộc hoàn toàn vào chữ Hán người tính chọn.
- Các quy ước đếm nét khác nhau giữa trường phái, lệch vài nét mỗi chữ là chuyện thường.
- Tên thương hiệu không có họ, cách chia ngũ cách là do người tính tự đặt.
- Bảng 81 số có nhiều dị bản; một số con số đổi từ "tốt" sang "nửa tốt" giữa các sách.
- Khách hàng không nhìn thấy số nét; họ thấy chữ, nghe âm, nhớ nghĩa. Một cái tên "đẹp số" mà khó đọc thì vẫn khó nhớ.
Những lý do này không có nghĩa phép số nét vô giá trị với người tin nó; chúng chỉ cho thấy kết quả phụ thuộc vào rất nhiều lựa chọn của người tính. Nếu gia đình bạn coi trọng phép này, cách dùng hợp lý là ghi rõ đã chọn chữ Hán nào, đếm theo quy ước nào, tính theo hướng nào, để kết quả có thể kiểm lại được. Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người.
Nếu vẫn muốn dùng: cách làm cho nhất quán
Với người muốn đưa phép số nét vào lớp tham khảo khi chọn tên thương hiệu, trình tự dưới đây giúp kết quả không bị điều chỉnh theo ý muốn.
- Chốt danh sách tên đã qua tra trùng, đọc thử và thử khách trước khi tính bất cứ con số nào.
- Với mỗi tên, chọn và ghi rõ chữ Hán cho từng âm; nếu một âm có nhiều chữ, chọn chữ đúng nghĩa bạn muốn kể với khách.
- Chọn một quy ước đếm nét và một bảng 81 số cụ thể, ghi lại nguồn; dùng đúng một bộ đó cho mọi tên.
- Chọn một hướng tính (chỉ tổng cách, hoặc đủ ngũ cách) và áp cho tất cả tên như nhau, trước khi biết kết quả.
- Ghi kết quả vào bảng, đặt cạnh các tiêu chí khác; không loại tên chỉ vì một cách rơi vào số được xếp xấu.
Bước bốn là bước then chốt: chọn hướng tính trước khi thấy kết quả. Đổi hướng tính sau khi thấy con số không đẹp là cách biến phép tính thành việc tìm lý do cho điều mình đã muốn sẵn.
Câu hỏi thường gặp
Bảng 81 số lý có phải từ Kinh Dịch không?
Không trực tiếp. Bảng 81 số dùng để đặt tên hiện nay được hệ thống hoá trong thời cận đại, chủ yếu ở Nhật Bản đầu thế kỷ 20, dù các tác giả thường viện dẫn các hệ số học cổ. Cách gán tốt xấu cho từng số là do các tác giả sau này sắp xếp.
Tên thương hiệu tiếng Việt có tính số nét được không?
Chỉ tính được khi đã chọn chữ Hán cho từng âm, và kết quả phụ thuộc vào chữ được chọn. Tên thuần Việt hay tên tiếng nước ngoài gần như không có cách tính được chấp nhận chung.
Có tính chữ "Công ty TNHH" vào số nét không?
Đa số cách tính không đưa phần loại hình doanh nghiệp vào, chỉ tính phần tên riêng. Tuy vậy, không có quy ước thống nhất, nên bạn cần chọn trước và áp dụng như nhau cho mọi tên đang cân nhắc.
Vì sao cùng một tên mà hai sách cho số nét khác nhau?
Thường do khác chữ Hán được chọn, khác quy ước đếm bộ thủ theo dạng gốc hay dạng viết, hoặc khác cách đếm chữ chỉ số. Mỗi khác biệt lệch vài nét, đủ để đổi con số tra bảng.
Số nét xấu có nên đổi tên không?
Không nên đổi tên đang dùng chỉ vì số nét. Đây là quan niệm có nhiều dị bản, còn chi phí đổi tên và mất khách nhớ tên là thật. Nếu đang trong giai đoạn chọn tên, có thể dùng số nét để chọn giữa hai tên đều tốt.
Phép số nét và phép tính ngũ hành theo nghĩa có liên quan không?
Hai phép độc lập. Phép số nét quy ra hành từ chữ số cuối của các cách, còn phép theo nghĩa xếp hành theo hình ảnh của chữ. Một tên có thể ra hai hành khác nhau theo hai phép, và đó là chuyện bình thường.