Theo tập quán, chọn ngày cải táng thường gồm bốn lớp: ngày lịch ghi hợp việc cải táng hoặc an táng, tránh các ngày kỵ dân gian như Tam nương, Nguyệt kỵ, tránh ngày xung với tuổi người đã khuất và người chủ trì, rồi chọn giờ làm, phần nhiều là ban đêm hoặc trước lúc mặt trời mọc. Đây là phong tục, không phải quy định, và cũng không có căn cứ để nói ngày nào sẽ đem lại điều gì cụ thể.
Bài này giải thích từng lớp ấy đến từ đâu, cách đọc trên một cuốn lịch thông dụng, và vì sao trước khi nói chuyện ngày giờ, gia đình nên chốt những điều thực tế hơn: mùa, thời tiết, người làm, quy định nghĩa trang. Mọi nội dung về ngày tốt xấu dưới đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người.
Vì sao người Việt xem ngày cho việc cải táng
Xem ngày là thói quen lâu đời trong các việc lớn của gia đình: cưới hỏi, làm nhà, khai trương, tang lễ. Cải táng là một việc lớn, động chạm tới phần mộ tổ tiên, nên đa số gia đình ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều chọn ngày, dù chỉ ở mức tra lịch và hỏi người lớn trong họ.
Về mặt tâm lý, chọn ngày giúp cả nhà có một mốc chung để chuẩn bị. Ai cũng biết hôm nào phải về, cần sắm gì, ai làm việc gì. Một ngày được "xem kỹ" cũng khiến người trong họ yên lòng, ít bàn ra tán vào. Đó là giá trị thật của việc chọn ngày, dù người ta tin vào cát hung ở mức nào.
Về mặt tín ngưỡng, các sách lịch pháp cổ phân chia ngày theo can chi, theo các sao, các trực, rồi quy định ngày nào hợp việc gì. Những hệ thống ấy được chép lại trong các cuốn lịch vạn sự lưu hành rộng rãi. Mỗi trường phái, mỗi bản lịch có chỗ khác nhau, nên cùng một ngày có khi sách này ghi nên làm, sách kia ghi nên tránh. Biết điều này giúp bạn bớt lo khi thấy hai nguồn nói khác nhau.
Cũng có những trường hợp gia đình gần như không được chọn ngày: nghĩa trang di dời theo kế hoạch, dự án giải phóng mặt bằng có hạn chót, hay mộ bị sạt lở sau mưa lũ cần xử lý ngay. Khi đó, nhiều nhà chỉ chọn giờ trong khung ngày được phép, hoặc làm một lễ báo cáo đơn giản ở nhà trước khi ra mộ. Người lớn tuổi ở nhiều làng vẫn nói "việc cần thì làm", tức là khi hoàn cảnh buộc, lòng thành và sự chu đáo quan trọng hơn ngày giờ.
Lớp thứ nhất: ngày lịch ghi hợp việc cải táng
Đọc mục "nên làm" và "không nên làm". Các cuốn lịch vạn sự, lịch bloc thông dụng thường có ô ghi việc nên làm, việc kỵ của từng ngày. Gia đình tìm ngày có ghi hợp với cải táng hoặc an táng, và tránh ngày ghi kỵ những việc này.
Ngày hoàng đạo và hắc đạo. Nhiều người ưu tiên ngày hoàng đạo. Đây là cách phân loại ngày theo vòng sao trong lịch pháp cổ; hiểu như một quy ước văn hoá, không nên coi ngày hắc đạo là ngày "nguy hiểm".
Giữa các bản lịch có thể vênh nhau. Lịch in của các nhà xuất bản khác nhau, ứng dụng lịch trên điện thoại cũng vậy, đôi khi không trùng mục nên – kỵ. Gia đình nên chọn một nguồn mà người lớn trong họ quen dùng và theo nhất quán, tránh tra năm nguồn rồi rối.
Đổi âm – dương lịch cho đúng. Ngày cải táng thường bàn theo âm lịch nhưng hẹn người làm, xin phép nghĩa trang lại theo dương lịch. Ghi cả hai ngày lên giấy để không ai nhầm.
Lớp thứ hai: các ngày kỵ dân gian hay được nhắc
Bảng dưới liệt kê những ngày kỵ mà nhiều gia đình tránh khi làm việc lớn, kể cả cải táng. Đây là tập quán, mức tin và mức giữ khác nhau tuỳ vùng, tuỳ nhà.
| Tên gọi | Ngày âm lịch thường kể | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tam nương | Mùng 3, 7, 13, 18, 22, 27 hằng tháng | Kiêng phổ biến cho nhiều việc lớn; nguồn gốc là giai thoại, nhiều cách kể |
| Nguyệt kỵ | Mùng 5, 14, 23 hằng tháng | Gắn với câu "mùng năm, mười bốn, hai ba" |
| Ngày xung tuổi | Ngày có địa chi xung với tuổi người mất hoặc người chủ trì | Theo cặp lục xung (xem mục sau) |
| Ngày ghi kỵ an táng trong lịch | Tuỳ từng ngày trong bản lịch dùng | Đọc ô "không nên làm" |
| Ngày trùng việc lớn khác | Ngày gia đình có giỗ, cưới, sự kiện khác | Lý do thực tế: người không thể chia ra hai nơi |
Nếu cộng hết các ngày kỵ, mỗi tháng còn lại không nhiều ngày. Vì thế nhiều gia đình chỉ giữ một hai lớp chính (thường là ngày ghi hợp việc và không xung tuổi), những lớp khác thì linh hoạt. Không có cách giữ nào là "đúng" duy nhất.
Lớp thứ ba: tránh ngày xung tuổi
Mười hai địa chi được ghép thành sáu cặp xung: Tý với Ngọ, Sửu với Mùi, Dần với Thân, Mão với Dậu, Thìn với Tuất, Tỵ với Hợi. Theo quan niệm chọn ngày, gia đình tránh ngày có địa chi xung với năm sinh của người đã khuất. Ví dụ giả định: người mất tuổi Tý thì tránh ngày Ngọ.
Ngoài người đã khuất, nhiều nơi còn xét tuổi người chủ trì, thường là con trưởng hoặc cháu đích tôn. Ngày được chọn tránh xung với cả hai người này. Một số gia đình còn xét tuổi những người trực tiếp nhặt cốt, nhưng mức này ít phổ biến hơn và thường được giải quyết bằng cách người có tuổi xung đứng tránh ra lúc mở nắp áo quan.
Tuổi ở đây tính theo năm âm lịch. Người sinh vào tháng Một, tháng Chạp dương lịch cần kiểm lại xem năm âm lịch là năm nào, vì Tết Nguyên đán rơi vào cuối tháng Một hoặc trong tháng Hai dương lịch. Đây là chỗ hay nhầm nhất khi tra tuổi.
Nên nhớ, tránh xung tuổi là một quy ước trong hệ thống chọn ngày, không có cơ sở để nói rằng làm vào ngày xung sẽ gây ra chuyện gì. Gia đình giữ thì giữ cho yên lòng; nếu vì hoàn cảnh không chọn được ngày khác, cũng không cần lo lắng.
Lớp thứ tư: chọn giờ làm
Phần lớn nơi làm ban đêm hoặc rạng sáng. Ở Bắc Bộ, việc bốc mộ thường bắt đầu từ nửa đêm về sáng và xong trước khi trời sáng rõ. Lý do theo dân gian là tránh để ánh nắng chiếu vào hài cốt. Lý do thực tế là trời mát, nghĩa trang vắng, kín đáo, và kịp đưa hài cốt sang mộ mới trong buổi sáng.
Một số nhà chọn giờ hoàng đạo trong đêm. Mỗi ngày có những giờ hoàng đạo khác nhau theo lịch. Nhà nào xem giờ thì người chủ trì sẽ làm lễ và động thổ mở mộ vào giờ đã chọn, còn công việc kéo dài sau đó.
Ánh sáng nhân tạo cần chuẩn bị đủ. Làm đêm phải có đèn pin, đèn sạc, đèn đội đầu. Đèn đủ sáng giúp nhặt hài cốt cẩn thận, không sót, và tránh vấp ngã giữa các ngôi mộ.
Có nơi làm ban ngày dưới bạt che. Ở nghĩa trang thành phố có giờ mở cửa cố định, nhiều gia đình làm vào sáng sớm, che kín bằng bạt. Đây là cách điều chỉnh phong tục cho phù hợp quy định, vẫn giữ ý không để nắng chiếu trực tiếp.
Khi nhiều tuổi, nhiều mộ: cách gỡ cho gọn
Không phải ngày nào cũng hợp với mọi người. Một gia đình đông con, tuổi người đã khuất, tuổi con trưởng, tuổi cháu đích tôn có thể rơi vào những cặp xung khác nhau. Cố tìm một ngày hợp hết thường không được, hoặc phải đợi rất lâu. Nhiều nơi chỉ xét tuổi người đã khuất và người chủ trì, những người khác nếu xung thì đứng tránh lúc mở nắp.
Cải táng nhiều mộ trong cùng một đợt. Dòng họ quy tập mộ hay hai ông bà cùng bốc một lần là chuyện thường gặp. Khi đó gia đình hay chọn một ngày chung, xét tuổi người chủ trì là chính, rồi làm lần lượt từng mộ theo thứ bậc, thường là bậc trên trước, bậc dưới sau. Thứ tự này là tập quán, nhằm giữ lễ trên dưới.
Ngày bốc và ngày đặt mộ mới. Phần lớn gia đình bốc mộ và cát táng ngay trong một đêm, sáng ra đã đặt tiểu vào mộ mới. Có trường hợp mộ mới chưa xây xong, gia đình gửi tiểu tạm ở nghĩa trang hoặc chỗ được phép, chờ ngày khác. Khi đó nhiều nhà xem thêm một ngày cho việc đặt mộ, theo cùng nguyên tắc như trên.
Ghi chép lại để đời sau đối chiếu. Ngày âm, ngày dương, giờ làm, người chủ trì, nơi đặt mộ mới nên được ghi vào gia phả hay sổ ghi chép của họ. Đời sau khi cần sửa mộ hay quy tập sẽ có căn cứ, khỏi phải dò hỏi.
Thứ tự nên làm: thực tế trước, ngày giờ sau
Nhiều gia đình bắt đầu bằng việc xem ngày rồi mới lo những thứ khác, dẫn tới chọn được ngày "đẹp" nhưng trời mưa, nghĩa trang không cho, hoặc người làm bận. Trình tự dưới đây giúp tránh tình huống đó.
- Chốt mùa: thường là cuối năm âm lịch, khi trời khô, nước ngầm thấp.
- Hỏi ban quản lý nghĩa trang hoặc chính quyền xã về thủ tục và những ngày được phép làm.
- Liên hệ người làm nghề, hỏi những đêm họ có thể nhận.
- Hỏi các thành viên chủ chốt ngày nào về được.
- Từ khoảng ngày còn lại, mới tra lịch để chọn ngày hợp tập quán, tránh ngày kỵ và tuổi xung theo mức gia đình giữ.
- Chọn thêm một ngày dự phòng phòng khi thời tiết xấu.
- Báo lại cho cả họ ngày giờ đã chốt, ghi rõ âm – dương lịch.
Đi theo trình tự này, gia đình vừa giữ được phong tục vừa không bị phong tục làm khó. Nếu có nhờ người xem ngày, hãy đưa sẵn khoảng ngày khả thi để họ chọn trong đó.
Câu hỏi thường gặp
Có bắt buộc phải nhờ thầy xem ngày cải táng không?
Không. Nhiều gia đình tự tra lịch và hỏi người cao tuổi trong họ. Nhờ người xem là lựa chọn riêng của từng nhà; dù chọn cách nào, nên ưu tiên các điều kiện thực tế như thời tiết, quy định nghĩa trang và người đi được.
Hai bản lịch ghi khác nhau thì theo bản nào?
Các bản lịch dựa trên những hệ thống chọn ngày có chỗ khác nhau, nên vênh nhau là bình thường. Cách gọn nhất là theo bản lịch người lớn trong họ quen dùng và giữ nhất quán từ đầu đến cuối.
Ngày mất của người thân có nên chọn làm ngày cải táng không?
Tập quán mỗi nơi một khác. Có nhà tránh trùng ngày giỗ để không dồn hai việc, có nhà không quan tâm. Về thực tế, ngày giỗ đã có việc riêng của nó, tách ra thường dễ tổ chức hơn.
Nếu đã chọn ngày mà trời mưa to thì sao?
Nên hoãn sang ngày dự phòng. Mưa làm huyệt đọng nước, đất trơn, việc nhặt hài cốt khó và kém an toàn. Hoãn vì thời tiết là lý do chính đáng, không có gì phải ngại.
Người chủ trì tuổi xung với ngày đã chọn thì làm thế nào?
Theo cách nhiều nơi xử lý, người đó vẫn có mặt lo việc nhưng đứng tránh ra lúc mở nắp áo quan, hoặc nhờ một người khác trong họ thắp hương mở đầu. Đây là tập quán, gia đình làm theo mức mình thấy yên lòng.