Thước Lỗ Ban bán phổ biến ở Việt Nam là thước dây in ba hàng chu kỳ khác nhau: hàng 52,2 cm dùng đo khoảng rỗng (cửa, cửa sổ, ô thoáng), hàng 42,9 cm dùng đo khối đặc của nhà ở (bệ, bậc, tủ, giường, khối xây), hàng 38,8 cm dùng cho âm phần và đồ thờ (mộ, bàn thờ, khám thờ). Mỗi hàng chia vòng của mình thành các cung tốt – xấu, in chữ đỏ và chữ đen.
Ba con số này là quy ước nghề mộc, nghề xây truyền lại, không phải đơn vị đo lường. Nguồn gốc cụ thể của từng chu kỳ có nhiều cách giải thích khác nhau và chưa thấy tài liệu nào thống nhất được, nên bài không khẳng định thước nào "chuẩn hơn". Bài giải thích mỗi hàng dùng cho việc gì, tên các cung, vì sao cùng một vật đo ba hàng ra ba kết quả, và cách đọc thước cho khỏi nhầm.
Thước Lỗ Ban là gì và cái tên đến từ đâu
Lỗ Ban là tên người thợ thời Xuân Thu ở Trung Hoa, được giới thợ mộc, thợ xây nhiều nơi tôn làm ông tổ nghề. Đời sau gắn tên ông vào cây thước có chia cung cát hung, gọi là Lỗ Ban xích; ở Việt Nam người ta gọi gọn là thước Lỗ Ban. Chuyện chính ông đặt ra cây thước này là giai thoại nghề, không có văn bản đương thời ghi lại.
Điều chắc là trong nghề mộc truyền thống, cây thước của người thợ cả vừa là dụng cụ đo vừa mang ý nghĩa nghi lễ. Khi dựng nhà gỗ, kích thước cột, xà, cửa được người thợ chọn theo thước nghề của mình, và mỗi vùng, mỗi phường thợ có thể giữ một chu kỳ khác nhau. Thước dây in sẵn ba hàng như ngày nay là sản phẩm hiện đại, gom các chu kỳ hay dùng lên cùng một cuộn cho tiện.
Hiểu như vậy để thấy: khi hai người thợ dùng hai thước khác nhau và nói khác nhau về một con số, chưa chắc ai sai, mà có thể mỗi người theo một truyền thống. Thước Lỗ Ban là một lớp văn hoá trong nghề làm nhà, không phải phép đo có kiểm chứng.
Ba hàng trên cuộn thước dây, đặt cạnh nhau
Bảng tóm tắt dưới đây theo cách dùng phổ biến ở Việt Nam hiện nay; một số người làm nghề có cách chia việc hơi khác:
| Hàng | Chu kỳ | Số cung | Mỗi cung | Thường dùng đo |
|---|---|---|---|---|
| Hàng trên (thường) | 52,2 cm | 8 | khoảng 6,5 cm | khoảng rỗng: cửa đi, cửa sổ, ô thoáng, lỗ cổng |
| Hàng giữa (thường) | 42,9 cm | 8 | khoảng 5,4 cm | khối đặc dương trạch: bệ, bậc, bếp, giường, tủ, trụ cổng, chiều cao tầng |
| Hàng dưới (thường) | 38,8 cm | 10 | khoảng 3,9 cm | âm phần và đồ thờ: mộ, bàn thờ, khám, bài vị |
Thứ tự trên – giữa – dưới không cố định giữa các nhà sản xuất. Cách chắc nhất là đọc chữ ở đầu mỗi hàng hoặc đếm độ dài một vòng: kéo thước từ vạch 0, xem cung đầu tiên lặp lại ở vạch nào. Nếu cung Quý nhân lặp lại ở vạch 52,2 cm thì đó là hàng khoảng rỗng; nếu cung Tài lặp lại ở 42,9 cm thì đó là hàng khối đặc; nếu cung Đinh lặp lại ở 38,8 cm thì đó là hàng âm phần.
Một mẹo nhỏ của thợ: hàng có ô ngắn nhất, chữ dày đặc nhất là hàng 38,8 cm vì nó chia mười cung trên một vòng ngắn. Hàng có ô dài nhất là 52,2 cm. Khi thước đã cũ, chữ mờ, cách nhận bằng độ dài ô này vẫn dùng được.
Hàng 52,2 cm: tám cung cho khoảng rỗng
Quý nhân (tốt). Cung đầu vòng, nghĩa dân gian là có người giúp đỡ, việc làm ăn hanh thông.
Hiểm họa và Thiên tai (xấu). Hai cung liền nhau, mang nghĩa rủi ro, tai nạn trong quan niệm. Đây là đoạn dài khoảng 13 cm mà người theo quy ước tránh.
Thiên tài và Nhân lộc (tốt). Hai cung liền nhau, nghĩa là tiền tài, lộc ăn. Đây là một trong hai cụm số tốt dài khoảng 13 cm trong mỗi vòng.
Cô độc và Thiên tặc (xấu). Nghĩa là lẻ loi, mất mát trong quan niệm, cũng dài khoảng 13 cm.
Tể tướng (tốt). Cung cuối vòng, nối liền với Quý nhân của vòng kế tiếp, thành cụm tốt thứ hai.
Mỗi cung lại chia năm ô nhỏ. Trên thước in, mỗi cung lớn thường có năm ô nhỏ ghi thêm tên. Phần lớn người dùng chỉ đọc cung lớn; đọc đến ô nhỏ là chuyện của người theo sát trường phái. Tên các ô nhỏ cũng khác nhau giữa các bản in, nên không cần học thuộc.
Hàng 42,9 cm: khối đặc của nhà ở
Hàng này chia tám cung, mỗi cung khoảng 5,36 cm, đọc theo thứ tự từ vạch 0:
- Tài (tốt): tiền của.
- Bệnh (xấu) và Ly (xấu): đau ốm, chia lìa trong quan niệm.
- Nghĩa (tốt) và Quan (tốt): việc thiện, đường công danh.
- Kiếp (xấu) và Hại (xấu): mất mát, tổn hại.
- Bản (tốt): gốc rễ, nền tảng; nối liền với Tài của vòng sau.
Cũng như hàng 52,2, các cung tốt của hàng 42,9 gom thành hai cụm, mỗi cụm khoảng 10,7 cm: Nghĩa – Quan (16,1–26,8 cm trong vòng) và Bản – Tài (37,5 cm sang 5,4 cm của vòng kế). Thợ hay dùng hàng này cho chiều cao bệ bếp, chiều dài giường, kích thước tủ, chiều cao bậc thềm, kích thước trụ cổng và cả chiều cao thông tầng. Với đồ nội thất làm sẵn, kích thước đã do nhà sản xuất định theo công năng; dùng thước để chọn giữa các phương án chứ không nên đặt đóng lại chỉ vì một con số.
Hàng 38,8 cm: âm phần và đồ thờ
Hàng này có mười cung, mỗi cung 3,88 cm, ngắn nhất trong ba hàng nên đọc phải cẩn thận hơn:
- Đinh (tốt): con cháu đông đúc.
- Hại (xấu), rồi Vượng (tốt): thịnh vượng.
- Khổ (xấu), rồi Nghĩa (tốt) và Quan (tốt) liền nhau.
- Tử (xấu), rồi Hưng (tốt).
- Thất (xấu), rồi Tài (tốt), nối liền với Đinh của vòng sau.
Hàng này được dùng cho kích thước mộ, bia, tiểu và đặc biệt là đồ thờ trong nhà: bàn thờ, khám thờ, bệ thờ, bài vị. Cách chọn kích thước bàn thờ gia tiên cho vừa phòng là đề tài riêng, nhiều trang chuyên về đồ thờ đã viết kỹ; ở đây chỉ cần nhớ đồ thờ thường đo bằng hàng 38,8 cm, còn chiều cao để thắp hương thuận tay, an toàn với lửa là chuyện công năng phải tính song song.
Vì mỗi cung chỉ dài 3,88 cm, sai số vài milimét ở hàng này dễ làm đổi cung hơn hai hàng kia. Thợ làm đồ thờ vì thế thường chọn số ở giữa cung và đo lại sau khi đánh vecni hoặc sơn son, vì lớp hoàn thiện cũng làm tăng kích thước một chút.
Vì sao cùng một vật mà ba hàng cho ba kết quả
Vì ba chu kỳ khác nhau, một con số bất kỳ gần như luôn rơi vào ba cung không liên quan gì nhau. Lấy ví dụ 81 cm: theo hàng 52,2 là Nhân lộc, theo hàng 42,9 là Bản, theo hàng 38,8 là Đinh, cả ba đều được coi là tốt. Nhưng 90 cm thì theo hàng 52,2 là Cô độc (xấu), theo hàng 42,9 là Tài (tốt), theo hàng 38,8 là Khổ (xấu).
Vì vậy câu hỏi đúng không phải "số này tốt hay xấu" mà là "vật này đo bằng hàng nào". Cửa đi là khoảng rỗng thì đọc hàng 52,2; nếu bạn đọc nhầm sang hàng 42,9 rồi thấy chữ đỏ, kết luận sẽ sai. Thợ mỗi nơi có thể chia việc hơi khác: có người đo cả chiều cao tầng bằng hàng 42,9, có người đo khung bao cửa (phần đặc) bằng hàng 42,9 trong khi lọt lòng (phần rỗng) đo hàng 52,2.
Nếu muốn một vật "đẹp" ở cả hai hàng, bạn phải tìm vùng giao nhau của các cụm tốt, và vùng đó thường hẹp, có khi chỉ một hai centimet. Đó là lý do người làm nghề khuyên chỉ chọn một hàng đúng loại cho mỗi vật, không cố ôm cả ba.
Đọc thước dây Lỗ Ban từng bước cho khỏi nhầm
Năm bước dưới đây dùng được cho cả người chưa cầm thước bao giờ:
- Xác định vật cần đo là khoảng rỗng, khối đặc của nhà ở, hay đồ thờ – âm phần, để chọn hàng 52,2, 42,9 hoặc 38,8 cm.
- Kéo thước từ mép trong của vật (với khoảng rỗng là mép trong khuôn), giữ thước thẳng và căng, không võng.
- Đọc số centimet trước, ghi lại; sau đó mới dò lên hàng đã chọn xem vạch đó nằm trong ô chữ đỏ hay chữ đen. Phần lớn thước in chữ đỏ cho cung tốt, chữ đen cho cung xấu, nhưng nên đọc tên cung chứ đừng chỉ nhìn màu.
- Nếu vạch nằm sát ranh giới hai cung (cách dưới 1 cm), coi như không chắc và nhích số vào giữa cung.
- Ghi tất cả số đo kèm tên hàng thước đã dùng, ví dụ "cửa chính lọt lòng 133 cm – hàng 52,2 – Nhân lộc", để người khác kiểm lại được.
Các công cụ tra thước Lỗ Ban cho phép nhập số và xem cả ba hàng một lúc; chúng chỉ thay việc dò bằng mắt, còn số đo vẫn phải lấy từ thước thật trên công trình.
Nhìn thước Lỗ Ban cho tỉnh táo
Từ góc độ kiến trúc, kích thước tốt của một cửa, một bậc, một cái bàn được quyết định bởi cơ thể người dùng: chiều cao người, bước chân, tầm với, tư thế ngồi. Các khoảng tốt của thước Lỗ Ban đủ dày đặc (cứ khoảng 26 cm lại có một cụm 13 cm tốt với hàng 52,2) nên gần như luôn tìm được một con số vừa hợp công năng vừa hợp quy ước. Thước vì thế ít khi buộc bạn phải hy sinh sự tiện dụng.
Chuyện tin đến đâu là lựa chọn của mỗi gia đình. Nhiều người dùng thước như một cách "đặt cái tâm" khi làm nhà, giống như chọn ngày khởi công. Điều cần tránh là để thước trở thành cớ đập phá công trình đã xong hay chi tiền cho người nói rằng một con số sẽ đem lại vận rủi. Không có bằng chứng nào cho thấy cung trên thước quyết định chuyện làm ăn hay sức khoẻ của người ở.
Câu hỏi thường gặp
Thước Lỗ Ban 52,2 cm còn gọi là thước gì?
Trong dân gian, hàng 52,2 cm hay được gọi là thước đo thông thủy hoặc thước đo khoảng không, vì dùng cho các khoảng rỗng như cửa, cửa sổ. Một số tài liệu gọi bằng tên khác; tên gọi không thống nhất nên bạn nhận ra nó bằng chu kỳ 52,2 cm là chắc nhất.
Chữ đỏ trên thước Lỗ Ban có luôn là tốt không?
Phần lớn thước dây bán ở Việt Nam in cung tốt màu đỏ và cung xấu màu đen, nhưng không phải bản in nào cũng theo đúng quy ước này. Bạn nên đọc tên cung in trong ô, đối chiếu với bảng tên cung tốt – xấu, thay vì chỉ nhìn màu.
Đo chiều cao tầng nhà dùng thước nào?
Nhiều thợ dùng hàng 42,9 cm cho chiều cao tầng vì coi đó là kích thước của khối nhà. Một số người lại đo chiều cao thông thủy (từ sàn đến trần) bằng hàng 52,2. Đây là chỗ các truyền thống khác nhau; chiều cao tầng còn bị ràng buộc bởi quy hoạch và giấy phép xây dựng.
Thước Lỗ Ban của Trung Quốc có giống thước bán ở Việt Nam không?
Thước bán ở các nơi có những chu kỳ khác nhau và cách gọi khác nhau. Một số chu kỳ trùng với thước ở Việt Nam, một số không. Vì không có chuẩn chung, bạn nên dùng thống nhất một loại thước trong cả công trình và hỏi người thợ đang theo truyền thống nào.
Đồ nội thất mua sẵn có cần đo theo thước Lỗ Ban không?
Không bắt buộc. Kích thước đồ làm sẵn được nhà sản xuất chọn theo công năng và vật liệu. Nếu gia đình muốn theo quy ước, có thể dùng hàng 42,9 cm để chọn giữa vài mẫu có sẵn, thay vì đặt đóng riêng chỉ để đổi vài centimet.
Có cần thước riêng cho từng việc không?
Không cần. Một cuộn thước dây in đủ ba hàng là đủ cho mọi việc trong nhà. Điều quan trọng là chọn đúng hàng cho đúng loại vật và đọc số centimet chính xác trước khi dò cung.