Trong phong thủy, mười thiên can và mười hai địa chi vừa mang ngũ hành vừa mang phương vị: Giáp Ất thuộc Mộc ở phương Đông, Bính Đinh thuộc Hỏa ở phương Nam, Canh Tân thuộc Kim ở phương Tây, Nhâm Quý thuộc Thủy ở phương Bắc, Mậu Kỷ thuộc Thổ ở giữa; các chi Dần Mão là Mộc, Tỵ Ngọ là Hỏa, Thân Dậu là Kim, Hợi Tý là Thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi là Thổ. Nhờ vậy can chi được dùng để gọi tên hướng nhà trên la kinh, như "toạ Tý hướng Ngọ".
Bài này tập trung vào can chi như một hệ ký hiệu phương vị và ngũ hành mà phong thủy nhà ở dùng, không bàn chuyện tính tuổi hay vận hạn cá nhân. Bạn sẽ có bảng tra hành và hướng, cách 24 sơn được ghép từ can, chi và quẻ, các bộ tam hợp, lục xung mà nhiều thầy nhắc, và chỗ nên dừng khi áp dụng. Đây là quy ước của các trường phái, mức tin tuỳ mỗi người.
Mười thiên can: âm dương, ngũ hành, phương vị
Mười can đi thành năm cặp, mỗi cặp một hành, trong mỗi cặp can đầu là dương, can sau là âm.
| Can | Âm dương | Ngũ hành | Phương vị trên la kinh |
|---|---|---|---|
| Giáp | Dương | Mộc | Đông (lệch về Bắc) |
| Ất | Âm | Mộc | Đông (lệch về Nam) |
| Bính | Dương | Hỏa | Nam (lệch về Đông) |
| Đinh | Âm | Hỏa | Nam (lệch về Tây) |
| Mậu | Dương | Thổ | Trung tâm, không có sơn riêng |
| Kỷ | Âm | Thổ | Trung tâm, không có sơn riêng |
| Canh | Dương | Kim | Tây (lệch về Nam) |
| Tân | Âm | Kim | Tây (lệch về Bắc) |
| Nhâm | Dương | Thủy | Bắc (lệch về Tây) |
| Quý | Âm | Thủy | Bắc (lệch về Đông) |
Mậu và Kỷ thuộc Thổ, ứng trung tâm, nên không xuất hiện trên vòng 24 sơn. Đây là chi tiết giải thích vì sao 24 sơn chỉ có tám can chứ không phải mười.
Cách nhớ nhanh: đi theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, cứ hai can một hành theo đúng vòng tương sinh Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Can thứ lẻ trong dãy là dương, can thứ chẵn là âm. Chỉ cần thuộc dãy mười chữ là suy ra được cả hành lẫn âm dương.
Mười hai địa chi: ngũ hành và phương vị
Mười hai chi chia đều quanh vòng tròn, mỗi chi chiếm 30 độ. Bốn chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu nằm đúng bốn phương chính.
| Chi | Âm dương | Ngũ hành | Phương vị |
|---|---|---|---|
| Tý | Dương | Thủy | Chính Bắc |
| Sửu | Âm | Thổ | Đông Bắc lệch Bắc |
| Dần | Dương | Mộc | Đông Bắc lệch Đông |
| Mão | Âm | Mộc | Chính Đông |
| Thìn | Dương | Thổ | Đông Nam lệch Đông |
| Tỵ | Âm | Hỏa | Đông Nam lệch Nam |
| Ngọ | Dương | Hỏa | Chính Nam |
| Mùi | Âm | Thổ | Tây Nam lệch Nam |
| Thân | Dương | Kim | Tây Nam lệch Tây |
| Dậu | Âm | Kim | Chính Tây |
| Tuất | Dương | Thổ | Tây Bắc lệch Tây |
| Hợi | Âm | Thủy | Tây Bắc lệch Bắc |
Bốn chi Thổ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nằm ở bốn khoảng giao giữa các phương chính, giống cách Thổ được đặt ở các khoảng chuyển mùa. Khi đọc các chữ này trên la kinh, bạn có thể tự suy hành của một hướng mà không cần bảng.
24 sơn: can, chi và quẻ ghép thành vòng hướng
Vòng 24 sơn là vòng quan trọng nhất trên la kinh dùng cho nhà ở. Nó chia 360 độ thành 24 phần, mỗi phần 15 độ, gồm 12 địa chi, 8 thiên can (bỏ Mậu Kỷ) và 4 quẻ ở bốn góc: Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Mỗi hướng trong tám hướng chứa ba sơn. Phương Bắc gồm Nhâm, Tý, Quý; Đông Bắc gồm Sửu, Cấn, Dần; Đông gồm Giáp, Mão, Ất; Đông Nam gồm Thìn, Tốn, Tỵ; Nam gồm Bính, Ngọ, Đinh; Tây Nam gồm Mùi, Khôn, Thân; Tây gồm Canh, Dậu, Tân; Tây Bắc gồm Tuất, Càn, Hợi.
Nhờ vòng này, hướng nhà được gọi chính xác hơn tám hướng. Hai nhà cùng "hướng Nam" có thể một nhà toạ Tý hướng Ngọ, một nhà toạ Quý hướng Đinh; với các trường phái lý khí như Huyền không, đó là hai hướng khác nhau và tinh bàn cũng khác. Đây là lý do người xem phong thủy cẩn thận luôn đo đến độ chứ không chỉ nói "hướng Nam".
Hành của mỗi sơn về cơ bản theo can, chi hoặc quẻ tạo nên nó: sơn Giáp là Mộc, sơn Ngọ là Hỏa, sơn Càn là Kim, sơn Khôn là Thổ. Một số trường phái còn dùng các hệ hành khác cho 24 sơn (như ngũ hành của phái Tam hợp hay hệ nạp giáp), nên khi thấy hai sách ghi hành của một sơn khác nhau, đó thường là khác hệ chứ không phải lỗi in. Phần đo hướng và đọc la kinh có bài riêng.
Tam hợp, lục hợp, lục xung: các bộ quan hệ hay được nhắc
Tam hợp cục. Bốn bộ ba chi cách đều nhau 120 độ hợp thành một cục mang hành: Thân Tý Thìn hợp Thủy, Hợi Mão Mùi hợp Mộc, Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim. Trường phái Tam hợp dùng các cục này để đánh giá hướng nước chảy đến và chảy đi quanh nhà, mộ.
Lục hợp. Sáu cặp chi được coi là hợp: Tý với Sửu, Dần với Hợi, Mão với Tuất, Thìn với Dậu, Tỵ với Thân, Ngọ với Mùi. Các sách gán cho mỗi cặp một hành "hoá" ra, có chỗ không thống nhất, đặc biệt với cặp Ngọ Mùi.
Lục xung. Sáu cặp chi đối nhau qua tâm vòng tròn: Tý – Ngọ, Sửu – Mùi, Dần – Thân, Mão – Dậu, Thìn – Tuất, Tỵ – Hợi. Trên la kinh, đó đơn giản là hai phương đối diện nhau 180 độ. Vì toạ và hướng của một ngôi nhà luôn đối nhau, mọi ngôi nhà đều "toạ một chi, hướng chi xung với nó"; điều đó cho thấy chữ "xung" ở đây trước hết là mô tả hình học.
Thiên can ngũ hợp. Mười can ghép thành năm cặp hợp hoá: Giáp – Kỷ hoá Thổ, Ất – Canh hoá Kim, Bính – Tân hoá Thủy, Đinh – Nhâm hoá Mộc, Mậu – Quý hoá Hỏa. Bộ này dùng nhiều trong mệnh lý và phép chọn ngày hơn là trong bày trí nhà.
Can chi của năm và các phương "kiêng" theo năm
Ngoài vai trò ký hiệu phương vị, can chi còn đánh dấu thời gian: mỗi năm âm lịch mang một cặp can chi. Một số quan niệm phong thủy dựa vào chi của năm để xác định các phương được khuyên tránh động thổ, sửa chữa lớn trong năm đó. Ví dụ hay được nhắc là phương Thái tuế, tức phương của chính chi năm, và phương Tam sát, được suy từ tam hợp cục của chi năm: năm thuộc cục Thủy (Thân, Tý, Thìn) thì Tam sát ở phương Nam, phía đối với hành của cục.
Đây là những quan niệm mang tính tập quán, được các gia đình áp dụng ở mức khác nhau. Một số người dời việc khoan đục lớn ở phương đó sang năm khác; số khác bắt đầu sửa từ phương khác rồi mới làm tới. Lý giải thực tế có thể tìm thấy ở chỗ việc sửa nhà nên có kế hoạch, làm từng phần để gia đình vẫn sinh hoạt được, chứ không ở chỗ phương nào gây hại.
Bài này chỉ nêu cơ chế suy ra các phương ấy để bạn hiểu nguồn gốc khi nghe ai nhắc. Không nên vì chúng mà trì hoãn sửa chữa cần thiết cho an toàn, như chống thấm mái, gia cố cầu thang, sửa điện. Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người; quy định xây dựng và an toàn thì không tuỳ.
Đọc can chi khi xem nhà: vài lưu ý thực hành
Can chi là ngôn ngữ chung của nhiều trường phái, nên đọc đúng nó giúp bạn hiểu các bản xem phong thủy. Vài điều nên nhớ:
- Phân biệt can chi như phương vị (sơn trên la kinh) với can chi như thời gian (năm, tháng, ngày). Cùng chữ "Ngọ" có thể là hướng Nam hoặc năm Ngọ.
- Ghi hướng nhà theo sơn và độ, ví dụ "hướng Ngọ, khoảng 180 độ", thay vì chỉ ghi "hướng Nam", để có thể đối chiếu với bất kỳ người xem nào sau này.
- Đừng lẫn ngũ hành chính của can chi với ngũ hành nạp âm. "Giáp Tý" là cặp can chi; Giáp thuộc Mộc, Tý thuộc Thủy, nhưng nạp âm của năm Giáp Tý lại là Kim. Ba chữ hành khác nhau cho cùng một cặp.
- Coi các bộ hợp, xung là mô tả quan hệ hình học và quy ước, không phải lời phán về con người. Nhà toạ Tý hướng Ngọ không có nghĩa là người ở "xung" với ai.
- Khi một lời khuyên dựa vào can chi của năm, hỏi rõ trường phái và lý do, rồi cân với nhu cầu thật của gia đình.
Ví dụ giả định: bản vẽ của một ngôi nhà ở Đồng Nai ghi "toạ Quý hướng Đinh". Tra bảng sẽ biết nhà quay về phía Nam lệch Tây một chút, sơn hướng thuộc Hỏa, sơn toạ thuộc Thủy. Chỉ chừng đó đã đủ để bạn hình dung nhà nhận nắng thế nào và theo dõi được cuộc trao đổi với người thiết kế.
Tự dựng vòng 24 sơn bằng giấy để hiểu la kinh
Không cần mua la kinh để hiểu cách can chi xếp quanh vòng tròn. Một tờ giấy, thước đo góc và bút chì là đủ cho bài tập nhỏ này:
- Vẽ một vòng tròn lớn, đánh dấu tâm. Kẻ một đường thẳng đứng qua tâm: đầu trên là Bắc (0 độ), đầu dưới là Nam (180 độ).
- Chia vòng tròn thành 24 phần bằng nhau, mỗi phần 15 độ. Lưu ý vạch chia đặt lệch nửa ô, tức ở 7,5 độ, 22,5 độ, 37,5 độ…, để chữ Tý nằm giữa ô quanh 0 độ.
- Ghi ba sơn của phương Bắc theo chiều kim đồng hồ: Nhâm, Tý, Quý, với Tý nằm giữa, ngay trên đường Bắc (bảng số độ chi tiết của từng sơn có ở bài 24 sơn).
- Tiếp tục theo chiều kim đồng hồ: Sửu, Cấn, Dần, Giáp, Mão, Ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi.
- Tô năm màu cho năm hành theo bảng ở trên, quẻ góc tô theo hành của quẻ (Cấn, Khôn là Thổ; Càn là Kim; Tốn là Mộc).
- Đặt tờ giấy lên mặt bằng nhà, xoay cho trục Bắc khớp với hướng Bắc đo được, rồi đọc xem cửa chính, bếp, phòng ngủ nằm ở sơn nào.
Khi tô xong, bạn sẽ thấy các màu xếp thành từng cụm theo phương: cụm Mộc phía Đông, cụm Hỏa phía Nam, cụm Kim phía Tây, cụm Thủy phía Bắc, với các ô Thổ rải ở bốn góc chéo. Hình ảnh đó tóm gọn toàn bộ mối liên hệ giữa can chi, ngũ hành và phương vị mà bài này trình bày. Đây là bài tập để hiểu, không thay cho đo hướng thật bằng la bàn được hiệu chỉnh.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao 24 sơn không có Mậu và Kỷ?
Mậu và Kỷ thuộc Thổ, ứng với trung tâm chứ không ứng với một phương nào trên vòng tròn. Vì vậy vòng 24 sơn chỉ dùng tám can còn lại, cộng 12 chi và 4 quẻ góc.
Toạ Tý hướng Ngọ là hướng gì?
Là nhà quay mặt về chính Nam, lưng tựa về chính Bắc. Sơn Ngọ chiếm khoảng 15 độ quanh hướng 180 độ. Đây là hướng được nhiều công trình cổ chọn vì đón nắng mùa đông và gió mùa hè ở Bắc bán cầu.
Năm sinh có liên quan gì đến can chi của hướng nhà không?
Một số người so chi năm sinh với chi của hướng, nhưng các trường phái lý khí phổ biến dùng cung phi hoặc phi tinh thay cho phép so trực tiếp này. Can chi của hướng chủ yếu là ký hiệu phương vị.
Tam hợp cục dùng vào việc gì trong nhà ở?
Phái Tam hợp dùng để xét hướng nước, đường đi đến và rời khỏi khu đất. Trong bày trí thông thường, tam hợp ít được dùng; nó xuất hiện nhiều hơn trong chọn ngày và các lời khuyên theo năm.
Lục xung có phải là điềm xấu không?
Về mặt hình học, lục xung chỉ là hai phương đối diện nhau. Mọi ngôi nhà đều có toạ và hướng xung nhau theo nghĩa này. Các cách diễn giải xung thành điềm xấu là lớp quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người.