Cung phi tính từ năm sinh âm lịch và giới tính. Cộng tất cả chữ số của năm sinh, cộng tiếp cho tới khi còn một chữ số (gọi là S). Nam lấy 11 trừ S; nữ lấy S cộng 4. Kết quả từ 10 trở lên thì cộng hai chữ số lại. Con số cuối cùng từ 1 đến 9 ứng với một quẻ: 1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly; riêng số 5 thì nam tính là Khôn, nữ tính là Cấn.
Ví dụ nam sinh năm 1984: 1 + 9 + 8 + 4 = 22, 2 + 2 = 4, nên S bằng 4; 11 trừ 4 bằng 7, cung Đoài. Nữ cùng năm: 4 cộng 4 bằng 8, cung Cấn. Bài đi từng bước, có bảng quy đổi, cách tính riêng cho thế kỷ 20 và 21 mà nhiều tài liệu dùng, mười ví dụ giả định và mẹo tự kiểm. Cung phi là đầu vào của trường phái bát trạch; các nhận định tốt xấu theo cung phi là quan niệm của trường phái, mức tin tuỳ mỗi người.
Cung phi là gì và cần những gì để tính
Cung phi, còn gọi là mệnh quái hay quái số, là một quẻ trong tám quẻ bát quái được gán cho mỗi người, dùng trong trường phái bát trạch để xếp tám hướng thành bốn hướng cát và bốn hướng hung đối với người đó. Chữ "phi" thường được giải là "bay": con số của mỗi năm sinh được coi như bay qua các ô của cửu cung Lạc thư rồi dừng ở một ô. Dù hiểu theo cách nào, chữ này không liên quan đến phi tần trong cung vua như một số người đoán.
Đầu vào chỉ có hai thứ: năm sinh âm lịch và giới tính. Không cần tháng, ngày, giờ sinh. Vì vậy cung phi thô hơn nhiều so với lá số tử vi hay bát tự: mọi người nam sinh cùng một năm có cùng một cung phi. Đây là ưu điểm (dễ tính) và cũng là giới hạn (không phân biệt được hai người cùng tuổi cùng giới).
Năm âm lịch là điểm cần cẩn thận nhất. Theo cách tính phổ biến ở Việt Nam, năm đổi vào Tết Nguyên đán. Người sinh tháng một hoặc đầu tháng hai dương lịch phải kiểm ngày Tết năm ấy: nếu sinh trước Tết thì dùng năm dương lịch trước. Có trường phái lấy tiết Lập xuân làm mốc; danh mục này có bài riêng về khoảng chênh giữa hai mốc.
Bảng quy đổi số ra quẻ, hướng và hành
Con số tính được là số của một ô trong cửu cung Lạc thư. Mỗi ô ứng với một quẻ hậu thiên, một phương và một hành. Bảng dưới là thứ bạn cần đối chiếu sau khi tính xong.
| Số | Quẻ (cung phi) | Phương của quẻ | Hành của quẻ | Nhóm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Khảm | Bắc | Thủy | Đông tứ mệnh |
| 2 | Khôn | Tây Nam | Thổ | Tây tứ mệnh |
| 3 | Chấn | Đông | Mộc | Đông tứ mệnh |
| 4 | Tốn | Đông Nam | Mộc | Đông tứ mệnh |
| 5 | Nam: Khôn; nữ: Cấn | Trung cung | Thổ | Tây tứ mệnh |
| 6 | Càn | Tây Bắc | Kim | Tây tứ mệnh |
| 7 | Đoài | Tây | Kim | Tây tứ mệnh |
| 8 | Cấn | Đông Bắc | Thổ | Tây tứ mệnh |
| 9 | Ly | Nam | Hỏa | Đông tứ mệnh |
Cột "Nhóm" quyết định phần lớn lời khuyên của bát trạch: người Đông tứ mệnh có bốn hướng tốt là Bắc, Nam, Đông, Đông Nam; người Tây tứ mệnh có bốn hướng tốt là Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc. Thứ tự cụ thể của bốn hướng (Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị) khác nhau theo từng quẻ, được trình bày ở danh mục Bát trạch.
Các bước tính cung phi bằng công thức cộng chữ số
Công thức dưới đây dùng được cho mọi năm sinh, không phân biệt thế kỷ. Bạn chỉ cần biết cộng và trừ trong phạm vi hai chữ số.
- Xác định năm sinh âm lịch (kiểm ngày Tết nếu sinh vào tháng một, tháng hai dương lịch).
- Cộng tất cả các chữ số của năm. Nếu tổng có hai chữ số, cộng tiếp hai chữ số ấy, lặp lại cho tới khi còn một chữ số từ 1 đến 9. Gọi số này là S.
- Với nam: lấy 11 trừ S. Nếu ra 10 thì đọc là 1.
- Với nữ: lấy S cộng 4. Nếu ra từ 10 trở lên thì cộng hai chữ số lại (10 thành 1, 11 thành 2, 12 thành 3, 13 thành 4).
- Tra số vừa có trong bảng quy đổi. Nếu là 5: nam ghi Khôn, nữ ghi Cấn.
Ví dụ nam sinh năm 1990: 1 + 9 + 9 + 0 = 19, 1 + 9 = 10, 1 + 0 = 1, nên S bằng 1. Nam: 11 trừ 1 bằng 10, đọc là 1, cung Khảm. Nữ sinh năm 1990: 1 cộng 4 bằng 5, quy ước gửi về Cấn.
Phép "cộng chữ số tới khi còn một chữ số" thật ra là tìm số dư khi chia cho 9 (dư 0 thì coi là 9). Cung phi lặp lại sau đúng 9 năm cũng vì lý do này.
Công thức riêng cho người sinh thế kỷ 20 và thế kỷ 21
Nhiều tài liệu Việt Nam không cộng cả bốn chữ số mà chỉ dùng hai chữ số cuối, kèm hằng số khác nhau theo thế kỷ. Với người sinh từ 1900 đến 1999: cộng hai chữ số cuối tới khi còn một chữ số (gọi là T). Nam lấy 10 trừ T; nữ lấy T cộng 5, quá 9 thì cộng hai chữ số lại. Với người sinh từ 2000 trở đi: nam lấy 9 trừ T (ra 0 thì đọc là 9); nữ lấy T cộng 6, quá 9 thì cộng hai chữ số lại.
Hai cách cho cùng một kết quả. Lý do hằng số đổi khi sang năm 2000 là chữ số hàng nghìn và hàng trăm đổi từ "1, 9" sang "2, 0", làm tổng chữ số của năm lệch đi; công thức cộng cả bốn chữ số đã tự xử lý chuyện ấy nên không cần nhớ hai bộ hằng số. Nhiều người tính sai cho trẻ sinh sau năm 2000 chính vì dùng nhầm hằng số của thế kỷ trước.
Ví dụ kiểm chéo, nam sinh năm 2005. Cách cộng cả bốn chữ số: 2 + 0 + 0 + 5 = 7, 11 trừ 7 bằng 4, cung Tốn. Cách hai chữ số cuối: T bằng 5, 9 trừ 5 bằng 4, cung Tốn. Nữ sinh năm 2005: cách đầu 7 cộng 4 bằng 11, thành 2, cung Khôn; cách sau 5 cộng 6 bằng 11, thành 2, cung Khôn. Khi hai cách ra hai kết quả khác nhau, chắc chắn có một bước cộng bị nhầm.
Mười ví dụ giả định để bạn tự tính và đối chiếu
Bạn có thể che hai cột cuối, tự tính rồi so. Năm trong bảng đã là năm âm lịch.
| Năm âm lịch | S (tổng chữ số rút gọn) | Nam | Nữ |
|---|---|---|---|
| 1975 | 4 | 7 → Đoài | 8 → Cấn |
| 1980 | 9 | 2 → Khôn | 13 → 4 → Tốn |
| 1984 | 4 | 7 → Đoài | 8 → Cấn |
| 1986 | 6 | 5 → Khôn (quy ước) | 10 → 1 → Khảm |
| 1988 | 8 | 3 → Chấn | 12 → 3 → Chấn |
| 1990 | 1 | 10 → 1 → Khảm | 5 → Cấn (quy ước) |
| 1999 | 1 | 10 → 1 → Khảm | 5 → Cấn (quy ước) |
| 2005 | 7 | 4 → Tốn | 11 → 2 → Khôn |
| 2018 | 2 | 9 → Ly | 6 → Càn |
| 2024 | 8 | 3 → Chấn | 12 → 3 → Chấn |
Để ý năm 1984 và năm 1975 cho cùng kết quả: hai năm cách nhau 9 năm. Năm 1990 và 1999 cũng vậy. Còn năm 1988 và 2024, nam nữ trùng cung Chấn; trong vòng 9 năm chỉ có một năm như thế, vì đó là năm duy nhất mà hai công thức nam và nữ cho cùng một số.
Kiểm một bảng cung phi in sẵn trong vài phút
Bảng cung phi in trong lịch, sổ tay hay chia sẻ trên mạng xã hội thỉnh thoảng có lỗi sắp chữ, lệch một dòng là sai cả cột. Trước khi dùng một bảng như vậy cho cả nhà, bạn có thể kiểm nhanh theo trình tự sau:
- Chọn ba năm bất kỳ trong bảng, tự tính bằng công thức cộng chữ số và so với bảng. Nên chọn một năm của thế kỷ 20, một năm sau 2000 và một năm rơi vào số 5.
- Dò cột nam theo chiều năm tăng: con số phải giảm đều một bậc mỗi năm (sau 1 là 9). Dò cột nữ: phải tăng đều một bậc (sau 9 là 1). Chỗ nào nhảy cóc là chỗ bảng lệch dòng.
- Tìm các năm nam nữ trùng cung Chấn. Trong khoảng 1950 đến 2030 đó là 1952, 1961, 1970, 1979, 1988, 1997, 2006, 2015, 2024. Nếu bảng ghi khác ở những năm này, bảng đã sai.
- Xem bảng ghi năm 5 thế nào. Bảng ghi đúng sẽ có nam ra Khôn, nữ ra Cấn (theo quy ước phổ biến); nếu ghi "Trung cung" mà không quy về quẻ nào, bảng ấy chưa dùng được cho bát trạch.
- Cuối cùng, xem bảng tính theo năm âm lịch hay dương lịch. Bảng tốt thường có ghi chú cho người sinh trước Tết; bảng không ghi chú gì thì bạn tự nhớ quy tắc này khi tra.
Chỉ cần một bước không qua, đừng dùng bảng đó; tự tính bằng công thức trong bài vẫn nhanh và chắc hơn.
Quy ước số 5 và ba mẹo tự kiểm
Số 5 nằm ở ô giữa của Lạc thư, không ứng với quẻ nào, nên phép tính cần một quy ước "gửi" số 5 về một quẻ. Phần lớn sách bát trạch phổ biến dùng quy ước nam gửi Khôn, nữ gửi Cấn; cả hai quẻ đều thuộc hành Thổ, khớp với hành Thổ của trung cung, và đều thuộc nhóm Tây tứ mệnh. Có tài liệu ghi quy ước khác; nếu kết quả của bạn khác một nguồn đúng ở năm rơi vào số 5, hãy kiểm nguồn ấy dùng quy ước nào trước khi nghĩ mình tính sai.
Mẹo thứ nhất: cung phi của nam giảm một bậc mỗi năm, của nữ tăng một bậc mỗi năm (theo vòng 1 đến 9). Biết cung của một năm, bạn suy được năm kề bên mà không cần tính lại. Mẹo thứ hai: cùng năm, tổng hai con số của nam và nữ (trước khi gửi số 5) luôn bằng 6 hoặc 15, tức chia 9 dư 6; nếu tổng của bạn khác thì có một con số sai. Mẹo thứ ba: kết quả phải lặp lại sau 9 năm; tính thử năm sinh cộng 9 để kiểm.
Khi đã có cung phi, bạn có thể đối chiếu với công cụ tra cung phi trên trang. Hãy nhớ cung phi chỉ là đầu vào của bát trạch; việc dùng nó vào cửa, bếp, giường thế nào, và cân nó với nắng, gió, mặt bằng ra sao, được bàn ở danh mục Bát trạch. Đây là quan niệm của trường phái, mức tin tuỳ mỗi người.
Câu hỏi thường gặp
Cung phi và cung mệnh trong tử vi có giống nhau không?
Không. Cung phi là một quẻ bát quái tính từ năm sinh và giới tính, dùng trong phong thủy bát trạch. Cung Mệnh trong tử vi là một trong mười hai cung của lá số, an theo tháng và giờ sinh. Hai khái niệm trùng chữ "cung" nhưng thuộc hai môn khác nhau.
Vì sao nam và nữ cùng năm sinh lại khác cung phi?
Vì theo quy ước của phép tính, con số của nam đi nghịch còn của nữ đi thuận trên vòng cửu cung, xuất phát từ hai điểm khác nhau. Danh mục này có bài riêng giải thích gốc của quy ước ấy theo tam nguyên và Lạc thư. Khác cung không nói lên điều gì về tính cách hay hôn nhân.
Người chuyển giới hoặc không xác định giới thì tính cung phi thế nào?
Sách cổ không bàn trường hợp này. Một số người làm nghề tính theo giới tính khai sinh, số khác tính theo giới mà người đó sống. Vì cung phi là quy ước văn hoá tham khảo, bạn có thể tính cả hai, xem cả hai kết quả và chọn theo cảm nhận của chính mình.
Sinh năm 2000 thì công thức có khác không?
Nếu dùng cách cộng cả bốn chữ số thì không có gì khác: nam 11 trừ S, nữ S cộng 4. Nếu dùng cách hai chữ số cuối thì hằng số đổi: nam 9 trừ T, nữ T cộng 6. Nam sinh năm 2000 ra cung Ly, nữ ra cung Càn.
Có cần tính cung phi cho trẻ nhỏ không?
Chỉ cần nếu gia đình muốn bố trí phòng ngủ, bàn học của trẻ theo bát trạch. Với trẻ nhỏ, ánh sáng, an toàn, độ yên tĩnh và khoảng cách tới phòng bố mẹ quan trọng hơn nhiều so với hướng theo cung phi.
Tính ra cung phi rồi có cần mời người xem lại không?
Không bắt buộc. Phép tính đơn giản và tự kiểm được bằng các mẹo trong bài. Nếu sắp xây hoặc sửa nhà lớn, điều đáng làm hơn là trao đổi với kiến trúc sư về nắng, gió và mặt bằng, rồi mới cân thêm quan niệm bát trạch nếu gia đình quan tâm.