Phong-thuy.comPhong Thủy
Huyền không phi tinh

Cách lập tinh bàn Huyền không từng bước: vận bàn, sơn tinh, hướng tinh, thuận nghịch

Lập tinh bàn Huyền không bằng giấy bút: dựng vận bàn, đưa sơn tinh và hướng tinh vào giữa, xét thuận nghịch theo 24 sơn, kèm ví dụ giả định vận 9.

Top-down view of a student table in Da Nang, blank grid paper, pencil, eraser and a small wooden compass, a hand writing small marks, afternoon window light, muted green tones

Lập tinh bàn Huyền không gồm bốn việc: đặt số vận vào giữa và phi thuận để có vận bàn; lấy số vận bàn ở cung toạ làm sơn tinh nhập giữa, số ở cung hướng làm hướng tinh nhập giữa; xét mỗi số đó phi thuận hay nghịch theo âm dương của sơn tương ứng; rồi phi cả hai lớp qua chín cung. Toàn bộ chỉ cần một lưới chín ô, một cây bút và bảng âm dương của 24 sơn.

Bài đi qua từng bước với một ngôi nhà ví dụ giả định, có bảng tra kèm theo và danh sách lỗi hay gặp. Mục đích là để bạn tự dựng được và tự kiểm được bàn sao mà phần mềm hay người khác đưa cho. Phần diễn giải cát hung là quan niệm của trường phái, được bàn ở các bài khác.

Chuẩn bị: lưới chín ô, đường bay và số vận

Vẽ một lưới ba hàng ba cột. Theo quy ước bản đồ phong thủy cổ, phía Nam đặt ở trên; nhưng nếu bạn quen phía Bắc ở trên như bản đồ ngày nay thì cứ dùng, miễn ghi rõ tên hướng vào từng ô. Lẫn quy ước giữa chừng là lỗi rất phổ biến.

Đường bay của sao cố định theo thứ tự Lạc thư: Giữa, Tây Bắc, Tây, Đông Bắc, Nam, Bắc, Tây Nam, Đông, Đông Nam. Phi thuận là số tăng dần dọc đường bay (sau 9 quay về 1), phi nghịch là số giảm dần trên cùng đường bay đó (trước 1 quay về 9). Thứ tự các cung không bao giờ đổi, chỉ có chiều tăng giảm của con số là đổi.

Số vận lấy theo bảng Tam nguyên cửu vận: vận 8 từ 2004 đến 2023, vận 9 từ 2024 đến 2043, tính theo năm âm lịch bắt đầu từ Lập Xuân. Ngôi nhà ví dụ giả định trong bài: nhà phố ở Đà Nẵng, lưng quay về Tây, mặt nhìn về Đông, đo được khoảng 90 độ, tức sơn Mão ở hướng và sơn Dậu ở toạ, không sát mép sơn. Gia đình dọn vào năm 2024, lấy vận 9.

Trước khi bắt đầu, hãy ghi ra ở góc giấy ba dòng: số độ đo được và đo ở đâu (giữa cửa chính, sát tường mặt tiền hay ngoài vỉa hè), tên sơn toạ và sơn hướng, và lý do chọn vận. Ba dòng này giúp người khác kiểm lại bàn của bạn, và giúp chính bạn sau vài năm còn nhớ mình đã dựng dựa trên giả định nào. Nhiều cuộc tranh luận về phong thủy nhà ở kéo dài chỉ vì hai bên dùng hai số đo khác nhau mà không ai ghi lại.

Bước 1 và 2: dựng vận bàn, tìm hai số nhập giữa

Vận bàn là phần giống nhau cho mọi ngôi nhà cùng vận. Từ vận bàn, bạn lấy ra hai số cho sơn tinh và hướng tinh.

  1. Ghi số vận 9 vào ô giữa.
  2. Phi thuận theo đường bay: Tây Bắc 1, Tây 2, Đông Bắc 3, Nam 4, Bắc 5, Tây Nam 6, Đông 7, Đông Nam 8.
  3. Nhìn cung toạ: nhà toạ Tây, ô Tây đang ghi 2. Số 2 sẽ là sơn tinh nhập giữa.
  4. Nhìn cung hướng: nhà hướng Đông, ô Đông đang ghi 7. Số 7 sẽ là hướng tinh nhập giữa.
  5. Ghi vào ô giữa theo thứ tự sơn – vận – hướng: 2, 9, 7. Đây là "chữ ký" của tinh bàn; hai bàn có ô giữa khác nhau thì chắc chắn khác nhau.

Đến đây chưa thể phi tiếp, vì còn phải biết số 2 và số 7 bay thuận hay nghịch. Đây là bước người mới hay bỏ qua nhất, và cũng là bước làm nên khác biệt giữa các ngôi nhà cùng vận cùng trục.

Bảng âm dương của 24 sơn theo tam nguyên long

Mỗi cung có ba sơn, xếp theo chiều kim đồng hồ là địa nguyên, thiên nguyên, nhân nguyên. Bốn cung chính (Bắc, Nam, Đông, Tây) và bốn cung góc có quy luật âm dương ngược nhau, nên chỉ cần nhớ hai dòng là suy ra cả bảng.

Cung (số gốc)Địa nguyênThiên nguyênNhân nguyên
Khảm – Bắc (1)Nhâm (dương)Tý (âm)Quý (âm)
Khôn – Tây Nam (2)Mùi (âm)Khôn (dương)Thân (dương)
Chấn – Đông (3)Giáp (dương)Mão (âm)Ất (âm)
Tốn – Đông Nam (4)Thìn (âm)Tốn (dương)Tỵ (dương)
Càn – Tây Bắc (6)Tuất (âm)Càn (dương)Hợi (dương)
Đoài – Tây (7)Canh (dương)Dậu (âm)Tân (âm)
Cấn – Đông Bắc (8)Sửu (âm)Cấn (dương)Dần (dương)
Ly – Nam (9)Bính (dương)Ngọ (âm)Đinh (âm)

Cách nhớ: ở bốn cung chính, sơn đầu là dương, hai sơn sau là âm; ở bốn cung góc thì ngược lại, sơn đầu là âm, hai sơn sau là dương. Cung giữa (số 5) không có sơn riêng, nên số 5 được xử lý bằng quy tắc riêng ở bước sau.

Bước 3: xét thuận nghịch cho sơn tinh và hướng tinh

Quy tắc: lấy số cần phi, tìm cung gốc của số đó trong Lạc thư, chọn trong cung ấy sơn cùng nguyên long với sơn toạ (cho sơn tinh) hoặc sơn hướng (cho hướng tinh). Sơn đó dương thì phi thuận, âm thì phi nghịch.

  1. Sơn toạ là Dậu, thuộc thiên nguyên. Sơn tinh là 2, cung gốc của 2 là Khôn. Sơn thiên nguyên của cung Khôn là Khôn, mang dương. Vậy sơn tinh 2 phi thuận.
  2. Sơn hướng là Mão, thuộc thiên nguyên. Hướng tinh là 7, cung gốc của 7 là Đoài. Sơn thiên nguyên của cung Đoài là Dậu, mang âm. Vậy hướng tinh 7 phi nghịch.
  3. Trường hợp số nhập giữa là 5: cung giữa không có sơn, nên các sách phổ biến dùng âm dương của chính sơn toạ (với sơn tinh) hoặc chính sơn hướng (với hướng tinh). Ví dụ nhà Tý sơn Ngọ hướng vận 9 có sơn tinh 5; Tý mang âm nên sơn tinh 5 phi nghịch.

Lưu ý rằng nguyên long luôn lấy theo sơn của ngôi nhà, không lấy theo số. Nhà Dậu sơn thì mọi phép tra đều dùng cột thiên nguyên; nếu nhà là Canh sơn thì dùng cột địa nguyên, và kết quả thuận nghịch có thể khác hẳn dù vẫn là nhà toạ Tây.

Bước 4: phi hai lớp và ghi tinh bàn hoàn chỉnh

Phi sơn tinh 2 thuận (Giữa 2, Tây Bắc 3, Tây 4, Đông Bắc 5, Nam 6, Bắc 7, Tây Nam 8, Đông 9, Đông Nam 1) và hướng tinh 7 nghịch (Giữa 7, Tây Bắc 6, Tây 5, Đông Bắc 4, Nam 3, Bắc 2, Tây Nam 1, Đông 9, Đông Nam 8). Ghép với vận bàn, ta có tinh bàn nhà Dậu sơn Mão hướng vận 9 theo cách tính phổ biến:

CungSơn tinhVận tinhHướng tinh
Đông Nam188
Nam643
Tây Nam861
Đông (hướng)979
Giữa297
Tây (toạ)425
Đông Bắc534
Bắc752
Tây Bắc316

Ở cung hướng Đông có sơn tinh 9 và hướng tinh 9: hai sao đương vận cùng đến mặt nhà, các sách gọi là "song tinh đáo hướng". Theo quan niệm của phái, phía trước nhà khi đó được mong có khoảng trống để đón hướng tinh, và xa hơn có vật cao để đỡ sơn tinh. Đây là quan niệm, mức tin tuỳ mỗi người; còn về mặt thực tế, một mặt tiền hướng Đông có sân trước thoáng đón nắng sớm cũng là điều kiến trúc nhiệt đới vẫn ưa.

Cùng trục Đông – Tây nhưng khác sơn: vì sao tinh bàn đổi hẳn

Để thấy bước xét thuận nghịch quan trọng đến đâu, hãy giữ nguyên ngôi nhà ví dụ giả định nhưng giả sử số đo không phải 90 mà khoảng 75 độ. Khi đó mặt nhà rơi vào sơn Giáp, lưng nhà rơi vào sơn Canh. Vẫn là nhà toạ Tây hướng Đông, vẫn vận 9, vận bàn y nguyên, ô giữa vẫn là sơn tinh 2 và hướng tinh 7. Chỉ khác ở chỗ Canh và Giáp thuộc địa nguyên.

Tra lại: sơn tinh 2 có cung gốc Khôn, sơn địa nguyên của cung Khôn là Mùi, mang âm, nên sơn tinh 2 phi nghịch. Hướng tinh 7 có cung gốc Đoài, sơn địa nguyên của cung Đoài là Canh, mang dương, nên hướng tinh 7 phi thuận. Chiều phi của cả hai lớp đều đảo so với nhà Dậu sơn Mão hướng.

Kết quả là cung Tây, tức phía lưng nhà, ghi sơn tinh 9, vận tinh 2, hướng tinh 9: hai sao đương vận dồn về phía sau, thành "song tinh đáo toạ". Cung Đông, phía mặt nhà, giờ chỉ còn sơn tinh 4, vận tinh 7, hướng tinh 5. Hai ngôi nhà trông giống hệt nhau từ ngoài đường, cách nhau mười lăm độ trên la kinh, lại được phái này đọc theo hai hướng gần như ngược nhau.

Ví dụ này giải thích vì sao người theo Huyền không đòi đo hướng kỹ, và vì sao một lời nhận xét kiểu "nhà hướng Đông vận 9 thì thế này" luôn thiếu dữ kiện. Nó cũng nhắc bạn đừng tự sửa nhà theo một tinh bàn mà mình chưa chắc về số đo.

Tự kiểm tinh bàn và những lỗi hay gặp

Sau khi dựng xong, có mấy phép kiểm nhanh giúp phát hiện sai sót mà không cần phần mềm.

  • Mỗi lớp phải đủ chín số từ 1 đến 9, không lặp. Thiếu hoặc trùng một số là đã đi sai đường bay.
  • Ô Tây Bắc luôn là bước ngay sau ô giữa. Nếu số ở Tây Bắc không liền kề số giữa (hơn một khi thuận, kém một khi nghịch), bạn đã đi lạc đường.
  • Vận bàn của mọi nhà cùng vận phải giống nhau. So lớp vận tinh với một bàn vận 9 khác; khác là ghi nhầm.
  • Lỗi tra nguyên long theo số thay vì theo sơn nhà. Đây là lỗi làm đảo chiều phi phổ biến nhất.
  • Lỗi lẫn quy ước Nam trên với Bắc trên. Bàn đúng nhưng đặt ngược lên mặt bằng thì mọi phân tích sau đều lệch.
  • Lỗi quên kiểm số đo sát mép. Nếu nhà nằm sát ranh giới hai sơn, hãy dựng cả hai bàn và ghi chú, rồi hỏi người có kinh nghiệm về thế quái.

Tập dựng ba đến năm bàn cho các hướng khác nhau, bạn sẽ thấy quy trình chỉ mất vài phút. Khi đó việc dùng phần mềm trở thành để kiểm tra, không phải để tin mù quáng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao hướng tinh phải dựa vào sơn hướng mà không dựa vào sơn toạ?

Vì theo phép của phái, sơn tinh đi từ phía lưng nhà còn hướng tinh đi từ phía mặt nhà. Mỗi lớp lấy nguyên long và âm dương theo đầu mút của chính nó. Thực tế sơn toạ và sơn hướng luôn cùng nguyên long, nên chỉ khác nhau ở cung tra.

Lưới chín ô nên đặt Nam ở trên hay Bắc ở trên?

Sách cổ đặt Nam ở trên, nhiều phần mềm hiện nay đặt Bắc ở trên. Cả hai đều đúng nếu ghi rõ tên hướng trong từng ô. Điều quan trọng là khi đặt lên bản vẽ nhà, hướng của lưới phải khớp với hướng thật.

Có cần dựng tinh bàn cho từng tầng không?

Tinh bàn dựng một lần cho cả ngôi nhà theo hướng và vận. Khi áp vào, nhiều người đặt lưới lên mặt bằng từng tầng để xem khu nào ở tầng nào, nhưng con số trong các ô không đổi theo tầng.

Nếu không chắc nhà thuộc vận 8 hay vận 9 thì làm sao?

Hãy dựng cả hai bàn và ghi rõ giả định của từng bàn. Nhà xây xong trong năm 2023 nhưng dọn vào đầu năm 2024 là ví dụ hay gặp; các thầy theo phái cũng không thống nhất cách lấy trong những trường hợp này.

Dựng tay và phần mềm cho kết quả khác nhau thì tin bên nào?

Hãy so ô giữa trước. Nếu ô giữa khác, xem lại vận và sơn đã nhập. Nếu ô giữa giống mà các ô khác lệch, rất có thể một bên đã phi sai chiều hoặc phần mềm đang dùng thế quái. Dựng tay thêm lần nữa là cách kiểm tốt nhất.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183